Tin chuyên ngành - Xúc tiến thương mại
 
Tối 12.9, tại đường Lê Thị Mới, khu phố 1, Thị trấn Châu Thành, Trung tâm xúc tiến thương mại tỉnh Tây Ninh phối hợp với UBND huyện Châu Thành tổ chức khai mạc Phiên chợ hàng Việt về biên giới lần thứ ba.
 
Tối 5.9, tại Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Bến Cầu đã diễn ra lễ khai mạc phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” năm 2018.
 
Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018 diễn ra từ ngày 03-08/8/2018 tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Đà Nẵng (Số 9, đường Cách Mạng Tháng 8, Quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng). Đây là hoạt động quan trọng thuộc Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia năm 2018 do Bộ Công Thương và UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo thực hiện. Tham dự lễ khai mạc có Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải; Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh; cùng đại diện các cơ quan ngoại giao, cơ quan thương mại các nước Thái Lan, Lào, Myanmar, Campuchia, Indonesia và Trung Quốc.
 
Ngày 18/7/2018, Trung tâm Xúc tiến Thương mại trực thuộc Sở Công Thương Tây Ninh phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương tổ chức lớp tập huấn Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia cho hơn 40 Doanh nghiệp với 60 cán bộ của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.
 
Triển khai Kế hoạch xúc tiến thương mại tỉnh Tây Ninh năm 2018 (đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số Quyết định số 1401/QĐ-UBND ngày 30/5/2018), Sở Công Thương chủ trì, giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh (TPC) tổ chức chương trình tham gia Hội nghị kết nối cung cầu Phú Yên năm 2018 kết hợp khảo sát thị trường, kết nối giao thương và học tập kinh nghiệm về công tác XTTM tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên từ ngày 09 – 14/7/2018
 
Thực hiện Kế hoạch Xúc tiến Thương mại năm 2018 và nhu cầu của Doanh nghiệp hai bên, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu, sự kiện diễn ra từ ngày 05/7 đến ngày 06/7/2018 tại Siêu thị AuChan – Trung tâm Thương mại Thành Thành Công Tây Ninh, nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh.
 
Nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu.
 
Trong 3 ngày 25-26-27 tháng 4 năm 2014, tại đường vào Khu tái định cư (gần cầu Đìa Xù), Tỉnh lộ 786, ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, Sở Công Thương Tây Ninh chủ trì, phối hợp với UBND huyện Bến Cầu và Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (Trung tâm BSA) tổ chức Phiên chợ “Hàng Việt về nông thôn”.
 
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Tây Ninh (MB); địa chỉ: số 360-362 Đường 30/4, Phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; điện thoại: 066.6269999-ext: 232 khai mở dịch vụ chuyển tiền nhanh sang Campuchia.
 
Chiều 22/4, tại Hà Nội, Ủy ban Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam-Trung Quốc đã họp lần thứ 8 và ký kết Bản ghi nhớ hợp tác song phương trong lĩnh vực thương mại hàng nông sản giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Thương mại Trung Quốc.
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 9/2018Hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 9/2018
Tháng 9 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+3,10%) và tăng cao so tháng cùng kỳ (+28,54%). Các ngành kinh tế tăng so tháng trước: công nghiệp chế biến, chế tạo (+3,11%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+11,08%). Phần lớn các ngành công nghiệp chủ yếu tăng nhưng chỉ số IIP tăng không cao: chế biến thực phẩm (+11,52%), may trang phục (+2,26%), da và các sản phẩm có liên quan (+3,73%), sản phẩm từ cáo su và plastic(+2,80%), khoáng phi kim loại (+4,07%).

Chỉ số IIP trong tháng tăng do tác động từ một số ngành có chỉ số IIP và sản phẩm tăng, như: sản xuất sản phẩm từ cao su & plastic, trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, xi măng, chế biến đường.

Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so tháng trước: Bột mì (+13,64%), đường các loại (+140,96%), giầy các loại (+12,80%), quần áo các loại (+3,70%), vỏ, ruột xe các loại (+7,11%), clanke(+39,35%), xi măng (+4,07%), gạch các loại (+7,90%).

Biểu 1: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 so tháng trước và tháng cùng kỳ (%)

H 1.jpg


Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,28%; phân theo ngành kinh tế: công nghiệp chế biến, chế tạo (+15,17%), sản xuất phân phối điện (+12,12%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+33,58%), công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm so cùng kỳ (-12,90%).

 Các ngành công nghiệp chủ yếu đều tăng so cùng kỳ: dệt (+38,16%), sản xuất trang phục (+8,0%), sản phẩm từ cao su&plastic (+26,66%), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+14,40%), da và các sản phẩm có liên quan (+7,75%). Riêng công nghiệp chế biến thực phẩm đóng góp khá lớn về GTSX cho toàn ngành công nghiệp nhưng chỉ số IIP chỉ tăng nhẹ so cùng kỳ do ảnh hưởng từ công nghiệp chế biến củ mì, đường (lượng nguyên liệu ít, một số nhà máy công suất lớn tạm ngưng hoạt động, nhà máy đường vào vụ trễ hơn so với năm trước).

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá ss 2010): ước thực hiện 9 tháng đầu năm 2018 đạt 54.841,961 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 15,78%. Phân theo ngành kinh tế: công nghiệp chế biến, chế tạo ước đạt 54.092,903 tỷ đồng tăng 16,03%; sản xuất phân phối điện ước đạt 312,754 tỷ đồng tăng 1,65%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước đạt 281,026 tỷ đồng tăng 5,15%. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so cùng kỳ, riêng sản phẩm bột mì (sắn) giảm (3,61%), đường các loại giảm nhẹ.

Biểu 2: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 9 tháng/2018 so với cùng kỳ (%)

H 2.jpg


Tính chung 9 tháng, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển và có GTSX tăng khá (+15,78%) so cùng kỳ năm 2017, trong đó đóng góp cho tăng trưởng công nghiệp trong 9 tháng đầu năm chủ yếu từ ngành công nghiệp chế biến chế tạo (góp 15,77 điểm), công nghiệp khai khoáng giảm 0,28 điểm phần trăm

Phòng QLCN - SCT


9/23/2018 11:00 PMĐã ban hànhCông nghiệpTinHoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 9/2018/PublishingImages/2018-09/News_Key_23092018222023.png
Tháng 9 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+3,10%) và tăng cao so tháng cùng kỳ (+28,54%). Các ngành kinh tế tăng so tháng trước: công nghiệp chế biến, chế tạo (+3,11%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+11,08%). Phần lớn các ngành công nghiệp chủ yếu tăng nhưng chỉ số IIP tăng không cao: chế biến thực phẩm (+11,52%), may trang phục (+2,26%), da và các sản phẩm có liên quan (+3,73%), sản phẩm từ cáo su và plastic(+2,80%), khoáng phi kim loại (+4,07%).
9/23/2018 11:00 PMYesĐã ban hành
Khai mạc Phiên chợ hàng Việt về biên giới tại huyện Châu ThànhKhai mạc Phiên chợ hàng Việt về biên giới tại huyện Châu Thành
Tối 12.9, tại đường Lê Thị Mới, khu phố 1, Thị trấn Châu Thành, Trung tâm xúc tiến thương mại tỉnh Tây Ninh phối hợp với UBND huyện Châu Thành tổ chức khai mạc Phiên chợ hàng Việt về biên giới lần thứ ba.

khai mac(1).JPG

Trao quà cho học sinh nghèo hiếu học huyện Châu Thành.

Phiên chợ hàng Việt về biên giới tại huyện Châu Thành có sự tham gia của 40 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh với 70 gian hàng, gồm nhiều sản phẩm chất lượng cao, phong phú, đa dạng chủng loại phục vụ nhu cầu trong sản xuất và tiêu dùng của người dân.

Phiên chợ diễn ra từ ngày 12- 17.9, với các hoạt động trưng bày, mua bán sản phầm hàng hóa, chương trình văn nghệ hàng đêm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân trên địa bàn huyện.

Phiên chợ là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp sản xuất tiếp cận với người tiêu dùng khu vực nông thôn biên giới, nắm bắt thông tin thị trường; tìm kiếm đối tác, kết nối với các nhà phân phối, bán lẻ tại địa phương.

khai mac 2.JPG

Người dân mua sắm tại phiên chợ.

Đây cũng là cơ hội để người dân khu vực nông thôn, biên giới nâng cao kiến thức tiêu dùng và có điều kiện mua sắm các sản phẩm hàng Việt Nam có chất lượng cao với giá cả hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế.

Tại lễ khai mạc, Ban tổ chức đã trao 30 suất quà cho các em học sinh nghèo hiếu học và 30 phần quà cho hộ gia đình nghèo trên địa bàn huyện.

Theo BTNO


9/19/2018 9:00 PMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinKhai mạc Phiên chợ hàng Việt về biên giới tại huyện Châu Thành/PublishingImages/2018-09/khai mac(1)_Key_19092018202548.JPG
Tối 12.9, tại đường Lê Thị Mới, khu phố 1, Thị trấn Châu Thành, Trung tâm xúc tiến thương mại tỉnh Tây Ninh phối hợp với UBND huyện Châu Thành tổ chức khai mạc Phiên chợ hàng Việt về biên giới lần thứ ba.
9/19/2018 9:00 PMYesĐã ban hành
Khai mạc phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” ở Bến CầuKhai mạc phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” ở Bến Cầu
Tối 5.9, tại Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Bến Cầu đã diễn ra lễ khai mạc phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” năm 2018.

phien cho_1.jpg

Trao quà cho học sinh nghèo hiếu học.

Phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh thực hiện, với hoạt động chính là đưa hàng có thương hiệu Việt Nam chất lượng cao và một số hàng hóa địa phương đến tay người tiêu dùng, với sản phẩm chất lượng và giá rẻ hơn so với thị trường.

Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, nắm bắt nhu cầu tiêu dùng khu vực nông thôn, biên giới, tạo sự quan tâm của người tiêu dùng đối với hàng Việt. 

phien cho_2.JPG

Người dân huyện Bến Cầu tham quan, mua sắm tại phiên chợ.

Phiên chợ lần này diễn ra từ ngày 5-10.9, với 70 gian hàng, gồm các sản phẩm may mặc, thực phẩm chế biến và các mặt hàng tiêu dùng của 40 doanh nghiệp.

Tại buổi khai mạc, Ban tổ chức đã trao tặng 30 phần quà cho học sinh nghèo hiếu học và 30 phần quà cho hộ nghèo, gia đình chính sách trên địa bàn huyện.

Theo BTNO



9/19/2018 9:00 PMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinKhai mạc phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” ở Bến Cầu/PublishingImages/2018-09/phien cho_1_Key_19092018203315.jpg
Tối 5.9, tại Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Bến Cầu đã diễn ra lễ khai mạc phiên chợ “Hàng Việt về biên giới” năm 2018.
9/19/2018 9:00 PMYesĐã ban hành
Hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 8 năm 2018Hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 8 năm 2018
Tháng 8 năm 2018, xuất khẩu trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì được mức tăng trưởng so với tháng trước và tháng cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 398 triệu USD, so tháng trước tăng 1,5%.
Kim ngạch nhập khẩu tiếp tục được kiểm soát, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng nguyên liệu để phục vụ sản xuất, xuất khẩu như bông các loại; nguyên phụ liệu dệt may, da, giày; máy móc thiết bị cho thấy dấu hiệu sản xuất của các doanh nghiệp ngày càng phục hồi. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 256,5 triệu USD, tăng 3,4% so với tháng trước.

1. Tình hình xuất khẩu

Tháng 8 năm 2018, xuất khẩu trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì được mức tăng trưởng so với tháng trước và tháng cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 398 triệu USD, so tháng trước tăng 1,5%; (tăng 7,8% so với tháng cùng kỳ năm trước). Luỹ kế, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2.624,7 triệu USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ (ước đạt 60% so với kế hoạch năm 2018)

Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của các nhóm hàng so với tháng trước và tháng cùng kỳ năm trước 

(ĐVT: Triệu USD)

H.jpg 


* Nhóm hàng nông sản

Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 57,9 triệu USD, tăng 81,5% so tháng trước (giảm 30,9% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 14,5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Luỹ kế, ước đạt 397,1 triệu USD, giảm 1% so với cùng kỳ .

Một số mặt hàng chủ yếu như sau:

- Hạt điều: ước đạt 19,9 triệu USD, tăng 31,8% so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 34,4% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản. Luỹ kế, ước đạt 126,7 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 10,2%. Thị trường xuất khẩu gồm: Mỹ 9,1 triệu USD; Hà Lan 2,5 triệu USD; Úc 2,2 triệu USD; khác 6,1 triệu USD.

- Sắn và các sản phẩm từ sắn: ước đạt 17 triệu USD, tăng 160,4% so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 29% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản. Luỹ kế, ước đạt 162,1 triệu USD, giảm 0,2% so với cùng kỳ .

- Cao su: ước đạt 20,1 triệu USD, tăng 106,7% so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 34,8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản. Luỹ kế, ước đạt 102,5 triệu USD, so với cùng kỳ giảm 24,4%. Thị trường xuất khẩu gồm: Trung Quốc 10 triệu USD; Mỹ 1,7 triệu USD; Ấn Độ 1,3 triệu USD; khác 7,1 triệu USD.

* Nhóm hàng công nghiệp chế biến

 Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 329 triệu USD, giảm 6,4% so với tháng trước (tăng 19% so với tháng cùng kỳ năm trước ), chiếm tỷ trọng 82,7% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Luỹ kế, ước đạt 2.173 triệu USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ.

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như sau:

- Xơ, xợi dệt các loại: ước đạt 16,6 triệu USD, giảm 10,1% so tháng trước (tăng 12,8% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến.Thị trường xuất khẩu gồm: Trung Quốc 12 triệu USD; Hàn Quốc 1 triệu USD; Indonesia 0,86 triệu USD; khác 2,6 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 100,8 triệu USD, giảm 6,9% so với cùng kỳ.

- Hàng dệt may: ước đạt 93,8 triệu USD, tăng 6,7% so với tháng trước (tăng 45,9% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 28,5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Thị trường xuất khẩu gồm: Mỹ 38,6 triệu USD; Nhật Bản 36,8 triệu USD; Trung Quốc 4,3 triệu USD; thị trường khác 14,2 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 520 triệu USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ.

 - Giày, dép các loại: ước đạt 66,6 triệu USD, tăng 22,5% so với tháng trước (giảm 1% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 20,2% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Thị trường xuất khẩu gồm: Mỹ 25,3 triệu USD; Hà Lan 6,2 triệu USD; Trung Quốc 5,8 triệu USD; thị trường khác 29,3 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 476,1 triệu USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ.

- Vải các loại: ước đạt 44 triệu USD, giảm 11% so với tháng trước (tăng 14% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 13,4% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Thị trường xuất khẩu gồm: Campuchia 21,3 triệu USD; Trung Quốc 15,9 triệu USD; Thái Lan 1,9 triệu USD; thị trường khác 4,9 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 276,8 triệu USD, tăng 20,2% so với cùng kỳ.

- Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: ước đạt 19,2 triệu USD, giảm 28% so với tháng trước (tăng 12,6% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 5,8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Thị trường xuất khẩu gồm:Trung Quốc 5,4 triệu USD; Hong Kong 4,9 triệu USD; Indonesia 2,8 triệu USD; thị trường khác 6,2 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 139 triệu USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ.

- Phương tiện vận tải và phụ tùng: ước đạt 46 triệu USD, tăng 6,5% so tháng trước (tăng 21,7% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 13,9% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 286,4 triệu USD, tăng 7% so với cùng kỳ.

* Nhóm hàng hoá khác: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 11 triệu USD, tăng 26% so với tháng trước (tăng 23,2% so với tháng cùng kỳ năm trước). Luỹ kế, ước đạt 54,6 triệu USD, tăng 2,9% so với cùng kỳ.

Biểu: Kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2018 so với tháng trước và tháng cùng kỳ

(ĐVT: Triệu USD)

H 1.jpg

 

2. Tình hình nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu tiếp tục được kiểm soát, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng nguyên liệu để phục vụ sản xuất, xuất khẩu như bông các loại; nguyên phụ liệu dệt may, da, giày; máy móc thiết bị cho thấy dấu hiệu sản xuất của các doanh nghiệp ngày càng phục hồi.

Tháng 8, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 256,5 triệu USD, tăng 3,4% so với tháng trước (tăng 17,9% so với tháng cùng kỳ năm trước). Lũy kế, ước đạt 1.802,4 triệu USD, tăng 3% so với cùng kỳ ước đạt 59,3% kế hoạch năm.

* Nhóm hàng cần nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 246,2 triệu USD, giảm 12,2% so với tháng trước (tăng 21,7% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 96% so với tổng kim ngạch nhập khẩu. Luỹ kế, ước đạt 1.657,3 triệu USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ.

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như sau:

- Xơ, sợi dệt các loại: ước đạt 25,8 triệu USD, giảm 17,4% so với tháng trước (tăng 112,3% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 10,5% so với tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần nhập khẩu. Thị trường nhập khẩu gồm: Trung Quốc 22,8 triệu USD; Cộng hoà Áo 0,5 triệu USD; Mỹ 0,5 triệu USD; thị trường khác 1,9 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 185,9 triệu USD, tăng 83,4% so với cùng kỳ.

- Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: ước đạt 26,8 triệu USD, tăng 27,7% so với tháng trước (giảm 5,8% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 10,5% so với tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần nhập khẩu. Thị trường nhập khẩu gồm: Đan Mạch 7,2 triệu USD; Trung Quốc 5,4 triệu USD; Mỹ 2,9 triệu USD; thị trường khác 10,3 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 192,3 triệu USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ.

- Máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng: ước đạt 29,2 triệu USD, tăng 29,1% so với tháng trước (giảm 9% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 11,9% so với tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần nhập khẩu. Thị trường nhập khẩu gồm: Trung Quốc 10,7 triệu USD; Nhật Bản 8,6 triệu USD; Ấn Độ 2,2 triệu USD; Đức 2,2 triệu USD; Đài Loan 2,2 triệu USD; Hàn Quốc 1,4 triệu USD; thị trường khác 2,1 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 243 triệu USD, giảm 5% so với cùng kỳ.

- Hạt điều: ước đạt 23,1 triệu USD, giảm 3,3% so với tháng trước (giảm 16,3% so với tháng cùng kỳ). Thị trường nhập khẩu gồm: Cote DIvoire 14,2 triệu USD; Nigeria 3,8 triệu USD; Ghana 1,6 triệu USD; thị trường khác 3,6 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 138,8 triệu USD, giảm 25,3% so với cùng kỳ.

- Bông các loại: ước đạt 53,3 triệu USD, tăng 18,4% so với tháng trước (tăng 192,5% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 21,6% so với tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần nhập khẩu. Thị trường nhập khẩu gồm: Úc 44,3 triệu USD; Mỹ 6 triệu USD; Ấn Độ 2,6 triệu USD; Brazil 0,5 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 228,4 triệu USD, tăng 24,7% so với cùng kỳ.

- Vải các loại: ước đạt 30 triệu USD, tăng 31% so với tháng trước (giảm 5,9% so với tháng cùng kỳ), chiếm tỷ trọng 12,2% so với tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần nhập khẩu. Thị trường nhập khẩu gồm: Trung Quốc 18,7 triệu USD; Hàn Quốc 4,9 triệu USD; Đài Loan 4,3 triệu USD; thị trường khác 2,2 triệu USD. Luỹ kế, ước đạt 228,4 triệu USD, giảm 9% so với cùng kỳ.

* Nhóm hàng cần kiểm soát

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 2,7 triệu USD, giảm 37,4% so với tháng trước (giảm 34,9% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 1,1% so với tổng kim ngạch nhập khẩu. Luỹ kế, ước đạt 27,8 triệu USD, giảm 16,6% so với cùng kỳ.

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm: rau quả (0,3 triệu USD); chế phẩm thực phẩm khác (0,3 triệu USD); phế liệu sắt thép (0,03 triệu USD); Đá quý, kim loại quý và sản phẩm (1,9 triệu USD); ...

* Nhóm hàng hoá khác: Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 5,8 triệu USD giảm 58,9 % so với tháng trước (giảm 53,4% so với tháng cùng kỳ), chiếm 2% so với tổng kim ngạch nhập khẩu. Luỹ kế, ước đạt 117,3 triệu USD, giảm 44,2% so với cùng kỳ.

Biểu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 8/2018 so với tháng trước và tháng cùng kỳ

(ĐVT: Triệu USD)

H 2.jpg

Nguồn số liệu: Cục Hải quan

(Số liệu từ ngày 08/7 đến ngày 07/8/2018)



9/11/2018 2:00 PMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinHoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 8 năm 2018/PublishingImages/2018-09/News_Key_11092018143513.png
Tháng 8 năm 2018, xuất khẩu trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì được mức tăng trưởng so với tháng trước và tháng cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 398 triệu USD, so tháng trước tăng 1,5%.
Kim ngạch nhập khẩu tiếp tục được kiểm soát, mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng nguyên liệu để phục vụ sản xuất, xuất khẩu như bông các loại; nguyên phụ liệu dệt may, da, giày; máy móc thiết bị cho thấy dấu hiệu sản xuất của các doanh nghiệp ngày càng phục hồi. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 256,5 triệu USD, tăng 3,4% so với tháng trước.
9/11/2018 2:00 PMYesĐã ban hành
Hướng dẫn về đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018Hướng dẫn về đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018
Ngày 21/8/2018, Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư 22/2018/TT-BCT hướng dẫn về đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018, có hiệu lực kể từ ngày 21/8/2018 đến ngày 31/12/2018.

Theo đó, Thông tư này quy định lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường và nguyên tắc đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018.

Đối tượng áp dụng là các thương nhân trực tiếp sử dụng đường làm nguyên liệu sản xuất và thương nhân sử dụng đường thô để sản xuất đường tinh luyện; các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc nhập khẩu đường theo hạn ngạch thuế quan năm 2018.

Lượng đường đấu giá (Mã HS 17.01) nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2018 là 94.000 tấn.

Việc đấu giá hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018 được thực hiện thông qua Hội đồng đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018.

Bên cạnh đó, nguyên tắc, trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản thực hiện theo quy định về pháp luật bán đấu giá phù hợp với tính chất tài sản bán đấu giá.

Bộ Công Thương thành lập Hội đồng đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018. Chủ tịch Hội đồng đấu giá ban hành Quy chế đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018.

Sau khi có Báo cáo kết quả đấu giá của Hội đồng đấu giá, Bộ Công Thương có văn bản thông báo giao quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường cho thương nhân trúng đấu giá.

Khi làm thủ tục nhập khẩu đường, ngoài việc thực hiện các quy định hiện hành, thương nhân nộp văn bản thông báo giao quyền sử dụng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường của Bộ Công Thương với cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục hải quan nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật hải quan./.

Thông tư 22.2018.TT-BCT.pdf

Phòng KHTH - SCT

9/5/2018 12:00 PMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinHướng dẫn về đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018/PublishingImages/2018-09/thue-han-ngach_Key_05092018111202.jpg
Ngày 21/8/2018, Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư 22/2018/TT-BCT hướng dẫn về đấu giá thí điểm hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường năm 2018, có hiệu lực kể từ ngày 21/8/2018 đến ngày 31/12/2018.
9/5/2018 12:00 PMYesĐã ban hành
Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị phổ biến Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợBộ Công Thương tổ chức Hội nghị phổ biến Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Sáng ngày 17/8/2018, tại Khách sạn Palace (TP.Vũng Tàu), Bộ Công Thương đã tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và các văn bản hướng dẫn Luật về vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ.

Đến dự Hội nghị gồm có:

+ Ông Trần Văn Lượng – Cục trường Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp – Bộ Công Thương.

+ Ông Nguyễn Văn Thanh – Cục trưởng Cục hóa chất – Bộ Công Thương.

+ Ông Nguyễn Anh Sơn – Vụ trưởng Vụ pháp chế - Bộ Công Thương.

+ Cùng với các đại biểu đến từ Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đại diện các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ.

Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ gồm 8 Chương, 76 Điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2018. Luật này quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ; nguyên tắc, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Hội nghị đã phổ biến, hướng dẫn các quy định của Luật cùng với 02 văn bản hướng dẫn thi hành Luật bao gồm Nghị định số 71/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ và Thông tư số 13/2018/TT-BCT ngày 15/6/2018 của Bộ Công Thương Quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp.

Tại Hội nghị, Ban tổ chức cũng đã giải đáp các câu hỏi, thắc mắc và đề xuất của các đại biểu tham dự về việc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu bổ và công cụ hỗ trợ.

H 1.jpg

Toàn cảnh Hội nghị phổ biến Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

Qua Hội nghị này đã giúp cho công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ của Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ của các doanh nghiệp được tốt hơn.

Thông tin về Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và các văn bản pháp luật liên quan có thể tham khảo tại đây.

Luat so 14-2017-QH14.signed.pdf

Nghị định số 71-2018-NĐ-CP.signed.pdf

Thông tư số 13-2018-TT-BCT.pdf

Phòng KTATMT - SCT


8/28/2018 4:00 PMĐã ban hànhKỹ thuật an toàn-Môi trườngTinBộ Công Thương tổ chức Hội nghị phổ biến Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ/PublishingImages/2018-08/News_Key_28082018155742.png
Sáng ngày 17/8/2018, tại Khách sạn Palace (TP.Vũng Tàu), Bộ Công Thương đã tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và các văn bản hướng dẫn Luật về vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ.
8/28/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 8/2018Hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 8/2018
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng so tháng trước (+7,14%) và tăng cao so tháng cùng kỳ (+23,23%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+7,36%), sản xuất phân phối điện (+2,96%), khai khoáng (+0,13%). Riêng công nghiệp sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm (-2,43%) chủ yếu từ hoạt động thu gom và xử lý rác thải, tài chế phế liệu.

Chỉ số IIP trong tháng tăng do tác động từ một số ngành có GTSX và sản phẩm tăng, như: sản xuất chế biến thực phẩm (nhà máy đường Nước Trong vào vụ chế biến), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan.

Hầu hết các các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so tháng trước: Bột mì (+13,50%); giầy các loại(+9,23%); quần áo các loại (+4,10%); vỏ, ruột xe các loại (+9,04%); xi măng (+ 16,72%); clanke (+74,58%); điện thương phẩm (+2,96%).

Biểu 1: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 so tháng trước và tháng cùng kỳ (%)

H 1.jpg


Lũy kế so cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,06%; phân theo ngành kinh tế: công nghiệp chế biến, chế tạo (+14,93%), sản xuất phân phối điện (+11,42%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+37,35%). Riêng công nghiệp khai khoáng giảm so cùng kỳ (-19,01%). Phần lớn các ngành công nghiệp chủ yếu tăng so cùng kỳ: dệt (+36,45%), sản xuất trang phục (+13,62%), sản phẩm từ cao su&plastic (+26,61%), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+13,19%), da và các sản phẩm có liên quan (+8,18%).

Biểu 2: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 8 tháng/2018 so với cùng kỳ 

H 2.jpg


Tính chung 8 tháng, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển và tăng khá (+15,06%) so cùng kỳ năm 2017 (8 tháng 2017 tăng 15,7% ). Đóng góp cho tăng trưởng của ngành chủ yếu từ các ngành có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng cao và chỉ số IIP tăng khá so cùng kỳ, như: sản xuất da và sản phẩm có liên quan, dệt may, sản xuất sản phẩm cao su & plastic, khoáng phi kim loại, sản xuất và phân phối điện.

Phòng QLCN - SCT

8/21/2018 12:00 PMĐã ban hànhCông nghiệpTinHoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 8/2018/PublishingImages/2018-08/News_Key_21082018112302.png
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng so tháng trước (+7,14%) và tăng cao so tháng cùng kỳ (+23,23%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+7,36%), sản xuất phân phối điện (+2,96%), khai khoáng (+0,13%). Riêng công nghiệp sản xuất cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm (-2,43%) chủ yếu từ hoạt động thu gom và xử lý rác thải, tài chế phế liệu.
8/21/2018 12:00 PMYesĐã ban hành
Đoàn Tây Ninh tham dự Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018Đoàn Tây Ninh tham dự Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018
Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018 diễn ra từ ngày 03-08/8/2018 tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Đà Nẵng (Số 9, đường Cách Mạng Tháng 8, Quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng). Đây là hoạt động quan trọng thuộc Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia năm 2018 do Bộ Công Thương và UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo thực hiện. Tham dự lễ khai mạc có Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải; Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh; cùng đại diện các cơ quan ngoại giao, cơ quan thương mại các nước Thái Lan, Lào, Myanmar, Campuchia, Indonesia và Trung Quốc.

​Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018 có sự tham gia của 350 gian hàng của 200 doanh nghiệp trong và ngoài nước trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây giới thiệu, trưng bày nhiều sản phẩm chất lượng, mẫu mã phong phú, đa dạng. Hội chợ Quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây - Đà Nẵng 2018 diễn ra từ ngày 3 đến 8-8, với nhiều hoạt động sôi nổi như: Hội nghị Kết nối cung cầu Đà Nẵng, Hội thảo giới thiệu thị trường du lịch Campuchia, các tour tham quan du lịch...


H 2.jpg


Được biết, Hội chợ Quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư hành lang kinh tế Đông Tây - Đà Nẵng được tổ chức thường niên trong những năm gần đây nhằm giới thiệu thành tựu phát triển kinh tế xã hội, quảng bá tiềm năng về thương mại, đầu tư và du lịch của các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung, Tây Nguyên và các địa phương của các nước thuộc tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, các nước tiểu vùng sông Mê Kông.

Tây Ninh tham gia Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018, với quy mô 02 gian hàng tiêu chuẩn làm khu trưng bày chung của tỉnh, 02 gian hàng tiêu chuẩn cho Doanh nghiệp nhằm giới thiệu, quảng bá thông tin, hình ảnh của tỉnh, một số sản phẩm nổi bật của tỉnh và hỗ trợ một số doanh nghiệp của địa phương có các sản phẩm đặc trưng, đặc sản của tỉnh tham gia quảng bá, giới thiệu sản phẩm trực tiếp tại Hội chợ


H 1.jpg


Qua chương trình, Trung tâm XTTM Tây Ninh đã làm tốt công tác XTTM, giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh và hình ảnh các ngành công thương và nông nghiệp tỉnh Tây Ninh trong thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những thành tựu nổi bật và những định hướng trong tương lai đến bạn bè trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường quan hệ thương mại giữa các địa phương trong cả nước nói chung, giữa Tây Ninh và thành phố Đà Nẵng nói riêng.

Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, giới thiệu sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng ở thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung – Tây Nguyên từ đó giúp Doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới, mở rộng giao thương, trao đổi, học hỏi, thiết lập quan hệ hợp tác, kinh doanh lâu dài; đặc biệt, tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp trong công tác quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường và học tập kinh nghiệm trong quá trình hội nhập và nâng cao hoạt động xúc tiến thương mại của tỉnh.

TPC Tây Ninh - SCT


8/14/2018 4:00 PMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinĐoàn Tây Ninh tham dự Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018/PublishingImages/2018-08/H 1_Key_14082018152558.jpg
Hội chợ quốc tế Thương mại, Du lịch và Đầu tư Hành lang kinh tế Đông Tây – Đà Nẵng 2018 diễn ra từ ngày 03-08/8/2018 tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Đà Nẵng (Số 9, đường Cách Mạng Tháng 8, Quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng). Đây là hoạt động quan trọng thuộc Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia năm 2018 do Bộ Công Thương và UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo thực hiện. Tham dự lễ khai mạc có Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải; Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh; cùng đại diện các cơ quan ngoại giao, cơ quan thương mại các nước Thái Lan, Lào, Myanmar, Campuchia, Indonesia và Trung Quốc.
8/14/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Ban hành  Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp trên địa bànBan hành  Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn
Ngày 25/7/2018, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 1860/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn.

​Theo Quyết định, Sở Công Thương là cơ quan đầu mối tiếp nhận, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật, thành lập cụm công nghiệp, các dự án sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp, các thủ tục triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp.

Trước đó, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 27/2018/QĐ-UBND về việc bãi bỏ Quyết định số 51/2010/QĐ-UBND ngày 26/11/2010 của UBND tỉnh ban hành Quy chế phối hợp quản lý nhà nước về cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Quyết định 1860-QĐ-UBND.PDF

Quyết định 27-2018-QĐ-UBND.PDF

Phòng QLCN - SCT

8/5/2018 11:00 AMĐã ban hànhCông nghiệpTinBan hành  Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn/PublishingImages/2018-08/News_Key_05082018110350.png
Ngày 25/7/2018, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 1860/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp trên địa bàn.
8/5/2018 11:00 AMYesĐã ban hành
Tập huấn “Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia”Tập huấn “Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia”
Ngày 18/7/2018, Trung tâm Xúc tiến Thương mại trực thuộc Sở Công Thương Tây Ninh phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương tổ chức lớp tập huấn Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia cho hơn 40 Doanh nghiệp với 60 cán bộ của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.

     Được biết, Malaysia là một trong những nước phát triển của Đông Nam Á, thu nhập bình quân đầu người 9.800 USD, là nhà nhập khẩu đứng vị trí thứ 20 trên thế giới và xuất khẩu đứng thứ 18.  Như vậy, Malaysia có tỷ lệ nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu nhưng nhiều doanh nghiệp chưa biết hết về thị trường tiềm năng này nên đây là điều kiện rất thuận lợi để doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội khai thác.

     Hiện nay, Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia chủ yếu các nhóm hàng công nghiệp, nông lâm thủy sản và các mặt hàng khác. Trong số hàng hóa xuất khẩu sang Malaysia thời gian này, máy vi tính và sản phẩm điện tử là mặt hàng xuất khẩu chính, chiếm 34,5% tổng kim ngạch, đạt 599,7 triệu USD, tăng 230,39% so với cùng kỳ, đứng thứ hai là điện thoại các loại và linh kiện, tăng 34,2%, đạt 214,1 triệu USD. Ngoài hai mặt hàng chủ lực kể trên, Việt Nam còn xuất sang Malaysia các mặt hàng khác như: sắt thép, cao su, dầu thô, chè,…

     Tây Ninh là địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp khá nhanh của Việt Nam. Tỉnh có 5 khu công nghiệp đang hoạt động với quỹ đất sẵn có, hạ tầng hoàn thiện, có thể tiếp nhận các dự án quy mô lớn với chi phí thuê đất rẻ, đáp ứng hiệu quả nhu cầu của các nhà đầu tư. Về nông nghiệp, Tây Ninh có vùng nguyên liệu mía, mì, cao su thuộc vào loại lớn nhất nước và khu vực Đông Nam bộ cả về diện tích, chất lượng cũng như sản lượng, là tiền đề thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản, chế biến các sản phẩm tinh chế từ cao su, mía đường, tinh bột mì… gắn với vùng nguyên liệu.

Với tiềm năng sẳn có, các Doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong tỉnh (với các mặt hàng nông sản thế mạnh) thường xuyên có những hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa ra các nước và Malaysia là một thị trường đầy tiềm năng và có thể hợp tác lâu dài.


quang canh lop hoc.jpg

(ảnh Hoàng Tuấn - TTXTTM)


     Lớp Tập huấn "Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia" - năm 2018 giúp các doanh nghiệp tiếp cận và nâng cao kỹ năng xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng thông qua kênh hội chợ, triển lãm, trang bị thêm những kiến thức về thực phẩm Halal và cách tiếp cận có hiệu quả vào thị trường Malaysia. Qua đó thể hiện sự đồng hành của chính quyền địa phương đối với cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn hiện nay, đáp ứng nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp.

     Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng – Chuyên gia Văn phòng chứng nhận Halal tại Việt Nam đã truyền đạt đến các học viên các nội dung về thị trường hồi giáo, văn hóa hồi giáo và các chứng chỉ Halal của các nước (Malaysia, Indonisia, các nước Trung Đông-GCC). Theo Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng khẳng định sẽ giúp tư vấn cho các Doanh nghiệp Tây Ninh về chứng chỉ Halal miễn phí nếu có nhu cầu.

     Ông Lê Ngọc Thạch - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Tây Ninh cho biết, sau lớp tập huấn, học viên sẽ áp dụng các nội dung được học vào sản xuất, kinh doanh phát triển thương mại, ổn định lâu dài..

XTTM - SCT

7/19/2018 10:00 PMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinTập huấn “Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia”/PublishingImages/2018-07/quang canh lop hoc_Key_19072018210428.jpg
Ngày 18/7/2018, Trung tâm Xúc tiến Thương mại trực thuộc Sở Công Thương Tây Ninh phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương tổ chức lớp tập huấn Cơ hội xuất khẩu thực phẩm Halal sang thị trường Malaysia cho hơn 40 Doanh nghiệp với 60 cán bộ của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.
7/19/2018 10:00 PMYesĐã ban hành
Kết nối giao thương, những tín hiệu lạc quan cho đầu ra sản phẩm địa phươngKết nối giao thương, những tín hiệu lạc quan cho đầu ra sản phẩm địa phương
Triển khai Kế hoạch xúc tiến thương mại tỉnh Tây Ninh năm 2018 (đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số Quyết định số 1401/QĐ-UBND ngày 30/5/2018), Sở Công Thương chủ trì, giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh (TPC) tổ chức chương trình tham gia Hội nghị kết nối cung cầu Phú Yên năm 2018 kết hợp khảo sát thị trường, kết nối giao thương và học tập kinh nghiệm về công tác XTTM tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên từ ngày 09 – 14/7/2018

Đoàn tỉnh Tây Ninh có Ông Lê Văn Tường – Phó Giám đốc Sở Công Thương làm trưởng đoàn, 10 Doanh nghiệp tiêu biểu của địa phương và một số cán bộ phụ trách lĩnh vực quản lý, xúc tiến thương mại của tỉnh cùng tham dự.

Vào ngày 11/7/2018, Đoàn đã tham dự "Hội nghị kết nối cung cầu Phú Yên năm 2018" do Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) chủ trì, phối hợp Sở Công Thương Phú Yên tổ chức tại Trung tâm Hội nghị PYTOPIA, TP.Tuy Hòa. Đây là một trong những chuỗi các hoạt động chính của Hội nghị ngành Công Thương 15 tỉnh/thành phố khu vực miền Trung - Tây Nguyên lần thứ năm với sự tham dự của đại diện 30 Trung tâm Khuyến công, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và gần 200 doanh nghiệp (DN), nhà phân phối hàng hóa đến từ các tỉnh, thành phố trong cả nước. Sản phẩm mà các DN mang đến trưng bày và giới thiệu tại Hội nghị đều là những sản phẩm tiêu biểu, đặc sản nổi tiếng của địa phương đến từ các vùng miền như: cà phê, hồ tiêu, gạo hữu cơ Ba Chăm, mật ong, tỏi Lý Sơn, trà Matcha, tôm hùm, bò một nắng, Bánh tráng, Muối ớt tôm, Mãng cầu, Đậu phộng gia vị, Máy sấy nông sản, thực phẩm chế biến, Rau củ quả,...


PHUYEN-DOANCANBO TAI HOI NGHI.jpg

Đoàn cán bộ tỉnh và Doanh nghiệp tại Hội nghị kết nối cung cầu Phú Yên năm 2018

 

Sự kiện này là cơ hội để các DN, hợp tác xã, cơ sở sản xuất gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm đặc trưng của địa phương mình, đồng thời, tìm hiểu nhu cầu, tiêu chuẩn sản phẩm, phương thức cung ứng đối với hệ thống siêu thị, chợ đầu mối, các đơn vị sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm của tỉnh Phú Yên và các địa phương khác. Qua đó, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, năng lực cung ứng và sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và xuất khẩu. Tại Hội nghị, đại diện các DN địa phương đã ký kết 10 biên bản ghi nhớ hợp tác cung ứng và tiêu thụ sản phẩm với đối tác của các tỉnh.

Phu Yen.jpg

Doanh nghiệp Tây Ninh giới thiệu sản phẩm tại Hội nghị (Phú Yên)

         

Nhân dịp này, TPC Tây Ninh cũng đã phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại của các tỉnh tổ chức Hội nghị kết nối giao thương với doanh nghiệp các tỉnh: vào ngày 13/7/2018, tại Hội trường Sở Công Thương tỉnh Đăk Lăk và ngày 14/7/2018 tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại Du lịch tỉnh Bình Phước; Bên lề Hội nghị, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Sở Công Thương các bên đã thẳng thắn trao đổi thông tin, học tập các mô hình, giải pháp, kinh nghiệm của nhau về công tác về xúc tiến thương mại để từ đó vận dụng cho địa phương. Đồng thời, Đoàn tỉnh Tây Ninh cũng đã đến thăm, làm việc kết hợp khảo sát thị trường tại cơ sở của một số đối tác, doanh nghiệp và trung tâm thương mại của các tỉnh bạn.


DAKLAK- GIOI THIEU SP.jpg

Doanh nghiệp hai bên trao đổi, giới thiệu sản phẩm tại Hội nghị (Đăk Lăk)


DAKLAK-HOI NGHI.jpg

Đoàn cán bộ và Doanh nghiệp tại Hội nghị kết nối giao thương với tỉnh Đắk Lắk

 

Tại mỗi tỉnh, thành, các đơn vị tham gia đã trao đổi thông tin, giới thiệu sản phẩm, quảng bá thương hiệu một cách sôi nổi, cũng như chia sẻ về kinh nghiệm sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm. Công tác phối hợp của các tỉnh bạn nhiệt tình, chu đáo, chuyên nghiệp, tạo điều kiện tốt cho Đoàn công tác tỉnh Tây Ninh trong việc hỗ trợ tìm đầu ra cho sản phẩm địa phương. Bên cạnh đó đại diện của Trung tâm XTTM Tây Ninh cũng đã trao đổi, cung cấp thông tin về hàng hóa giữa các tỉnh, thành với nhau. Đồng thời sẵn sàng tạo điều kiện, giới thiệu cho các đơn vị sản xuất của tỉnh bạn kết nối hàng hàng hóa vào thị trường của tỉnh Tây Ninh. 


BINHPHUOC-HOINGHI.jpg

Hội nghị kết nối giao thương tại tỉnh Bình Phước


BP-GIOITHIEU.jpg

Doanh nghiệp Tây Ninh giới thiệu sản phẩm tại Hội nghị (Bình Phước)

 

Đây là lần đầu tiên Trung tâm XTTM Tây Ninh tổ chức, hỗ trợ DN địa phương tham gia chương trình khảo sát tìm kiếm thị trường trực tiếp tại các tỉnh, thành khu vực miền Trung – Tây Nguyên nhưng đã đạt được một số kết quả nhất định, với 35 biên bản thỏa thuận hợp tác đã được ký kết; bước đầu là những tín hiệu khả quan cho việc kết nối chính thức, mở rộng thị trường các mặt hàng sản phẩm tiêu biểu của tỉnh Tây Ninh. Chương trình nhận được sự quan tâm tham gia và đánh giá rất cao từ phía các doanh nghiệp, đặc biệt những cơ sở sản xuất nhỏ lẻ trong tỉnh. Ngoài những bản thỏa thuận kinh doanh đã được ký kết, các đơn vị tham gia còn được giao lưu, trao đổi thông tin và học hỏi kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, kinh doanh; Đồng thời cũng nhận được những thông tin hữu ích về thị trường các tỉnh nhờ những chia sẻ của đại diện các cơ quan quản lý tại địa phương.

Chương trình được tổ chức thành công đã góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường quan hệ thương mại giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước nói chung, giữa Tây Ninh và các tỉnh Phú Yên, Đắk Lắk, Bình Phước nói riêng. Đặc biệt đây là cơ hội cho các Trung tâm XTTM, Hiệp hội và Doanh nghiệp địa phương tiếp cận các đối tác kinh doanh, thương mại, đầu tư tiềm năng; đẩy mạnh kết nối, nắm bắt xu thế kinh doanh mới; mở rộng cơ hội quảng bá thương hiệu, giới thiệu và kết nối, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt nắm bắt nhu cầu của các doanh nghiệp, Cơ sở sản xuất, HTX nhằm lựa chọn các đơn vị đang gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cần mở rộng thị trường tiêu thụ và tìm kiếm nguồn liệu phục vụ sản xuất.

XTTM - SCT



7/18/2018 12:00 PMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinKết nối giao thương, những tín hiệu lạc quan cho đầu ra sản phẩm địa phương/PublishingImages/2018-07/PHUYEN-DOANCANBO TAI HOI NGHI_Key_18072018114740.jpg
Triển khai Kế hoạch xúc tiến thương mại tỉnh Tây Ninh năm 2018 (đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số Quyết định số 1401/QĐ-UBND ngày 30/5/2018), Sở Công Thương chủ trì, giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh (TPC) tổ chức chương trình tham gia Hội nghị kết nối cung cầu Phú Yên năm 2018 kết hợp khảo sát thị trường, kết nối giao thương và học tập kinh nghiệm về công tác XTTM tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên từ ngày 09 – 14/7/2018
7/18/2018 12:00 PMYesĐã ban hành
Tổ chức lớp tập huấn về an toàn thực phẩm ngành Công ThươngTổ chức lớp tập huấn về an toàn thực phẩm ngành Công Thương
Sở Công Thương phối hợp với Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương tổ chức 02 lớp tập huấn về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Công Thương quản lý vào 02 ngày 12 và 13/7/2018 tại khách sạn Victory cho 150 công chức làm công tác quản lý tại địa phương, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc ngành Công Thương quản lý.

H1.jpg

Thông qua buổi tập huấn, học viên được trang bị các kiến thức chung về thực phẩm, các mối nguy gây ô nhiễm thực phẩm và các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm. Học viên nắm được tổng quan về công tác quản lý an toàn thực phẩm hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm (Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 08/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2018 sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương). Bên cạnh đó, học viên còn nắm bắt được các chính sách về “Chiến lược An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030” và “Dự án An toàn thực phẩm thuộc Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số”, các khái niệm thương hiệu và các yếu tố cấu thành thương hiệu, cách thức xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp thực phẩm tại Việt Nam.

Phòng QLTM - SCT


7/16/2018 3:00 PMĐã ban hànhThương mạiTinTổ chức lớp tập huấn về an toàn thực phẩm ngành Công Thương/PublishingImages/2018-07/H1_Key_16072018151406.jpg
Sở Công Thương phối hợp với Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương tổ chức 02 lớp tập huấn về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Công Thương quản lý vào 02 ngày 12 và 13/7/2018 tại khách sạn Victory cho 150 công chức làm công tác quản lý tại địa phương, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc ngành Công Thương quản lý.
7/16/2018 3:00 PMYesĐã ban hành
Nghị định số 87/2018/NĐ-CP ngày 15/6/2018 của Chính phủ về kinh doanh khíNghị định số 87/2018/NĐ-CP ngày 15/6/2018 của Chính phủ về kinh doanh khí
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 87/2018/NĐ-CP về kinh doanh khí (gọi tắt là Nghị định số 87/2018/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2018. Nghị định gồm 6 chương, 62 điều, quy định về hoạt động kinh doanh khí và điều kiện kinh doanh khí tại thị trường Việt Nam.

Đối tượng áp dụng: Thương nhân theo quy định của Luật thương mại; tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh khí.

̀ kinh doanh khí (từ điều 6 đến điều 35): Nghị định quy định các điều kiện, quyền và nghĩa vụ đối với:

 + Thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu khí; thương nhân sản xuất, chế biến khí; thương nhân kinh doanh mua bán khí;

 + Cửa hàng bán lẻ LPG chai; trạm nạp LPG vào chai, trạm nạp LPG vào xe bồn, trạm nạp LPG/LNG/CNG vào phương tiện vận tải; trạm cấp LPG/LNG/CNG; trạm nén CNG;

 + Sản xuất, sửa chữa chai LPG; sản xuất chai LPG mini;

 + Điều kiện chai LPG, LPG chai, LPG chai mini lưu thông trên thị trường;

 + Điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng xuất, nhập khẩu khí; kinh doanh dịch vụ cho thuê bồn chứa, kho chứa LPG chai; kinh doanh dịch vụ vận chuyển khí.

̀̀ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp giấy chứng chận đủ điều kiện (từ điều 36 đến điều 46): Nghị định quy định các loại giấy chứng nhận đủ điều kiện, hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện đối với:

 + Giấy chứng nhận đủ điều kiện thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu LPG/LNG/ CNG; Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sửa chữa chai LPG; Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất chai LPG mini (thuộc thẩm quyền của Bộ Công Thương).

 + Giấy chứng nhận đủ điều kiện thương nhân kinh doanh mua bán LPG/LNG/CNG; Giấy chứng nhận đủ điều kiện trạm nạp LPG vào chai;Giấy chứng nhận đủ điều kiện trạm nạp LPG vào xe bồn; Giấy chứng nhận đủ điều kiện trạm nạp LPG/LNG/CNG vào phương tiện vận tải (thuộc thẩm quyền của Sở Công Thương).

 + Giấy chứng nhận đủ điều kiện cửa hàng bán lẻ LPG chai (thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện).

 + Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện là 10 năm kể từ ngày cấp mới. Trường hợp cấp lại Giấy chứng nhận đủ điều kiện (do bị mất, sai sót hoặc bị hư hỏng), nội dung, thời hạn Giấy chứng nhận cấp lại không thay đổi. Trường hợp cấp điều chỉnh Giấy chứng nhận đủ điều kiện (do thay đổi v đăng ký kinh doanh; thay đi đa đim tr s chính; thay đi thông tin liên quan đến thương nhân đăng ký), thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận không thay đổi.

̀ an toàn trong hoạt động kinh doanh khí: (từ điều 47 đến điều 57): Nghị định quy định chung về an toàn đối với các cơ sở kinh doanh khí; an toàn đối với bồn chứa khí; đường ống vận chuyển khí; trạm nạp LPG vào chai; trạm nạp khí vào phương tiện vận tải; trạm cấp khí; cửa hàng bán lẻ LPG chai; vận chuyển LPG chai bằng ô tô; vận chuyển, giao nhận LPG chai tới khách hàng sử dụng; vận chuyển, giao nhận khí bằng bồn chứa; kho chứa LPG chai.

̀ Điu khon chuyn tiếp:

 - Các thương nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện có thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn của Giấy chứng nhận.

 - Các cơ sở kinh doanh khí đã tồn tại trước ngày Nghị định này có hiệu lực, chưa đáp ứng khoảng cách an toàn về bố trí bồn chứa, khu vực nạp, sau 3 năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực phải tuân thủ các quy định tại Nghị định này và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

 - Trạm nạp LPG vào chai đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện còn hiệu lực chưa thuộc sở hữu của thương nhân kinh doanh LPG đầu mối theo quy định của Nghị định số 19/2016/NĐ-CP ngày 22/3/2016 của Chính phủ về kinh doanh khí được tiếp tục hoạt động đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực và đến hết thời hạn của Giấy chứng nhận.

Nghị định này thay thế Nghị định số 19/2016/NĐ-CP ngày 22/3/2016 của Chính phủ về kinh doanh khí. Bãi bỏ Chương V của Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất; vật liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Nghị định số 87-NĐ-CP.signed.pdf

Phòng QLTM - SCT

7/12/2018 4:00 PMĐã ban hànhThương mạiTinNghị định số 87/2018/NĐ-CP ngày 15/6/2018 của Chính phủ về kinh doanh khí/PublishingImages/2018-07/Nghi Dinh_Key_12072018151748.jpg
Ngày 15 tháng 6 năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 87/2018/NĐ-CP về kinh doanh khí (gọi tắt là Nghị định số 87/2018/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2018. Nghị định gồm 6 chương, 62 điều, quy định về hoạt động kinh doanh khí và điều kiện kinh doanh khí tại thị trường Việt Nam.
7/12/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Quy định chi tiết về hoạt động khuyến mạiQuy định chi tiết về hoạt động khuyến mại
Ngày 22/05/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/07/2018.

​Một trong những điểm đáng chú ý nhất trong Nghị định 81/2018/NĐ-CP vừa được ban hành là doanh nghiệp được khuyến mại, giảm giá 100% giá trị hàng hóa, dịch vụ, thay vì mức trần 50% như trước đây.


H 1.jpg

(Ảnh minh họa) 


Nghị định này quy định hạn mức khuyến mại, giảm giá của hàng hóa, dịch vụ như sau:

- Trong trường hợp tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung (giờ, ngày, tuần, tháng, mùa khuyến mại, giảm giá) thì được khuyến mại, giảm giá 100% giá trị hàng hóa, dịch vụ. Hạn mức khuyến mại, giảm giá 100% cũng được áp dụng với các hoạt động khuyến mại trong khuôn khổ chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do Thủ tướng quyết định.

- Ngoài trường hợp nêu trên, hạn mức khuyến mại, giảm giá không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trước thời gian khuyến mại.

Cũng theo Nghị định này, không áp dụng hạn mức giảm giá tối đa khi thực hiện khuyến mại giảm giá cho: Hàng hóa dịch vụ khi thực hiện chính sách bình ổn giá của nhà nước;  hàng thực phẩm tươi sống; hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp doanh nghiệp giải thể, phá sản, thay đổi địa điểm, ngành nghề sản xuất kinh doanh.

Ngoài ra, Nghị định còn quy định rõ hơn về khuyến mại theo phương thức đa cấp, cụ thể:

- Nghị định quy định doanh nghiệp không đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp không được thực hiện khuyến mại theo mô hình đa cấp, trong đó đối tượng khuyến mại gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, người trước được hưởng lợi ích từ việc mua hàng của người sau.

- Doanh nghiệp bán hàng đa cấp được thực hiện các hoạt động khuyến mại theo quy định của pháp luật nhưng phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.

Nghị định số 81-NĐ-CP.signed.pdf

Phòng QLTM - SCT

7/12/2018 4:00 PMĐã ban hànhThương mạiTinQuy định chi tiết về hoạt động khuyến mại/PublishingImages/2018-07/Nghi Dinh_Key_12072018151325.jpg
Ngày 22/05/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/07/2018.
7/12/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổChính phủ ban hành Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ
Ngày 15/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ (gọi tắt là Nghị định số 71/2018/NĐ-CP).

Nghị định gồm 05 Chương 20 Điều, trong đó tập trung chủ yếu vào các quy định về trình độ chuyên môn, huấn luyện và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn, phòng cháy chữa cháy, ứng phó sự cố trong hoạt động vật liệu nổ công nghiệp; huấn luyện và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn tiền chất thuốc nổ; quản lý, bảo quản vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ; thủ tục thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ.

Về trình độ chuyên môn trong hoạt động vật liệu nổ công nghiệp: Người quản lý phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật: Hoá chất, vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất, xây dựng công trình, giao thông, thủy lợi, địa vật lý hoặc dầu khí.

Người làm công tác phân tích, thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp phải có trình độ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật: Hoá chất, vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất hoặc khoan nổ mìn.

Chỉ huy nổ mìn phải có trình độ từ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành kỹ thuật. Cụ thể, đối với chuyên ngành kỹ thuật: Vũ khí đạn, công nghệ hóa học về thuốc phóng, thuốc nổ, công binh, khai thác mỏ, kỹ thuật mỏ, địa chất, xây dựng công trình, giao thông, thủy lợi, địa vật lý, dầu khí hoặc khoan nổ mìn. Chỉ huy nổ mìn phải có thời gian trực tiếp sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tối thiểu 01 năm đối với người có trình độ đại học trở lên và tối thiểu 02 năm đối với người có trình độ trung cấp, cao đẳng (1); đối với chuyên ngành kỹ thuật khác, chỉ huy nổ mìn phải có thời gian trực tiếp sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tối thiểu 02 năm đối với người có trình độ đại học trở lên và tối thiểu 03 năm đối với người có trình độ trung cấp, cao đẳng (2).

Thợ mìn phải có trình độ từ sơ cấp trở lên thuộc chuyên ngành quy định tại (1) nêu trên hoặc từ trung cấp trở lên thuộc chuyên ngành quy định tại (2) nêu trên. Thợ mìn phải có thời gian làm công việc phục vụ nổ mìn tối thiểu 06 tháng.

 Nghị định quy định đối tượng phải được huấn luyện kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp gồm: Người quản lý; Người lao động trực tiếp sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; Người được giao quản lý kho vật liệu nổ công nghiệp; Chỉ huy nổ mìn; Thợ mìn; Người phục vụ, người áp tải, điều khiển phương tiện vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp; Người làm công tác phân tích, thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp.

Về huấn luyện và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn tiền chất thuốc nổ (Chương III, từ Điều 11 đến Điều 15) quy định đối tượng phải huấn luyện kỹ thuật an toàn tiền chất thuốc nổ gồm: Người được giao quản lý kho tiền chất thuốc nổ. Người được giao quản lý kho tiền chất thuốc nổ đã được huấn luyện và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp không phải thực hiện huấn luyện và cấp giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn tiền chất thuốc nổ trong thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận huấn luyện kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp.

Về quản lý, bảo quản vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ và thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ (Chương IV, từ Điều 16 đến Điều 18) quy định Giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ đã cấp cho tổ chức được thu hồi theo quy định tại Khoản 4 Điều 10 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được thực hiện như sau:

 - Trường hợp tổ chức lập hồ sơ đề nghị thu hồi theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, trong vòng 05 ngày làm việc cơ quan có thẩm quyền thu hồi ban hành Quyết định thu hồi.

- Trường hợp tổ chức không lập hồ sơ đề nghị thu hồi theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, cơ quan có thẩm quyền thu hồi tiến hành kiểm tra, lập biên bản, tổ chức thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận và xử lý theo quy định của pháp luật.

 Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018, bãi bỏ Nghị định số 39/2009/NĐ-CP  ngày 23/4/2009 của Chính phủ về vật liệu nổ công nghiệp; Nghị định số 54/2012/NĐ-CP ngày 22/6/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều Nghị định số 39/2009/NĐ-CP ngày 23/4/2009 của Chính phủ về vật liệu nổ công nghiệp; các quy định về tiền chất thuốc nổ tại Nghị định số 76/2014/NĐ-CP ngày 29/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Chương III Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, phân bón, kinh doanh khí, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; Chương VII Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Nghị định số 71-NĐ-CP.signed.pdf

Phòng KTATMT - SCT

7/6/2018 5:00 PMĐã ban hànhKỹ thuật an toàn-Môi trườngTinChính phủ ban hành Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ/PublishingImages/2018-07/Nghi Dinh_Key_06072018163742.jpg
Ngày 15/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ về vật liệu nổ công nghiệp và tiền chất thuốc nổ (gọi tắt là Nghị định số 71/2018/NĐ-CP).
7/6/2018 5:00 PMYesĐã ban hành
Bộ Công Thương ban hành Thông tư quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệpBộ Công Thương ban hành Thông tư quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp
Ngày 15/6/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-BCT quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp.

 Thông tư này quy định danh mục vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; thẩm quyền cấp giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; xây dựng, quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu về vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp đối với đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng và tiêu hủy vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp.

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý, nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản, sử dụng và tiêu hủy vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp tại Việt Nam.

Theo Thông tư, Danh mục vật liệu nổ công nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh, sử dụng tại Việt Nam bao gồm vật liệu nổ công nghiệp phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí và vật liệu nổ công nghiệp quy định  cụ thể tại Phụ lục I. Tổ chức sản xuất, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp mới chưa có trong Danh mục quy định tại Phụ lục I (không bao gồm vật liệu nổ công nghiệp phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí) gửi văn bản đăng ký đến Bộ Công Thương để công nhận kết quả đăng ký, xem xét và bổ sung vào Danh mục vật liệu nổ công nghiệp. Mẫu văn bản đăng ký quy định tại Phụ lục II. Việc thử nghiệm, nghiệm thu vật liệu nổ công nghiệp mới thực hiện theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong sản xuất, thử nghiệm và nghiệm thu vật liệu nổ công nghiệp QCVN 01:2012/BCT. Vật liệu nổ công nghiệp thực hiện ghi nhãn theo quy định của pháp luật hiện hành. Tổ chức sản xuất, nhập khẩu phải ghi tên vật liệu nổ công nghiệp theo quy định tại Phụ lục I và được phép ghi thêm tên thương mại của sản phẩm. Tổ chức sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu vật liệu nổ công nghiệp phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Danh mục tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp quy định chi tiết tại Phụ lục III.

Giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp bao gồm: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; Giấy phép kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; Giấy phép kinh doanh tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp; Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; Giấy phép dịch vụ nổ mìn.

Thẩm quyền cấp giấy phép, giấy chứng nhận về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp được quy định như sau: Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp cấp, cấp lại, cấp điều chỉnh, thu hồi: Giấy phép, giấy chứng nhận quy định tại khoản 1, 2, 3, 8 Điều 5; Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho tổ chức là doanh nghiệp nhà nước, doanh nhiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối do Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước hoặc các Bộ, ngành làm đại diện chủ sở hữu vốn, doanh nghiệp hoạt động dầu khí, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có giấy phép hoạt động khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp hoặc tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học trừ tổ chức, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng. Cục Hóa chất cấp, cấp đổi, cấp lại, cấp điều chỉnh, thu hồi giấy phép quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 5. Sở Công Thương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Sở Công Thương) cấp, cấp lại, thu hồi Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho các tổ chức sử dụng vật liệu nổ trên địa bàn trừ các tổ chức quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và các tổ chức thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng. Mẫu giấy phép, giấy chứng nhận theo quy định tại Phụ lục IV.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2018, thay thế và bãi bỏ: Thông tư số 23/2009/TT-BCT ngày 11/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 39/2009/NĐ-CP ngày 23/4/2009của Chính phủ về vật liệu nổ công nghiệp; Thông tư số 26/2012/TT-BCT ngày 21/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Công Thương sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 23/2009/TT-BCT ngày 11/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 39/2009/NĐ-CP ngày 23/4/2009 của Chính phủ về vật liệu nổ công nghiệp; Thông tư số 45/2013/TT-BCT ngày 31/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định Danh mục vật liệu nổ công nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam; Thông tư số 61/2014/TT-BCT ngày 29/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện và quy định cụ thể một số điều của Nghị định số 76/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Thông tư số 13-2018-TT-BCT.pdf

Phòng KTATMT - SCT

7/6/2018 5:00 PMĐã ban hànhKỹ thuật an toàn-Môi trườngTinBộ Công Thương ban hành Thông tư quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp/PublishingImages/2018-07/Thông-tư-300x200_Key_06072018164049.jpg
Ngày 15/6/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 13/2018/TT-BCT quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ sử dụng để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp.
7/6/2018 5:00 PMYesĐã ban hành
Kết nối giao thương giữa Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng TàuKết nối giao thương giữa Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu
Thực hiện Kế hoạch Xúc tiến Thương mại năm 2018 và nhu cầu của Doanh nghiệp hai bên, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu, sự kiện diễn ra từ ngày 05/7 đến ngày 06/7/2018 tại Siêu thị AuChan – Trung tâm Thương mại Thành Thành Công Tây Ninh, nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh.

H 1.jpg

Được biết, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu nằm ở vị trí cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, Bà Rịa-Vũng Tàu kết nối thuận lợi với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng đường bộ, đường không, đường thủy và đường sắt. Ngoài lĩnh vực khai thác chủ yếu là dầu khí, Bà Rịa - Vũng Tàu còn có nhiều thế mạnh trong hoạt động khai thác và chế biến thủy hải sản, nông sản, cũng như một số sản phẩm đặc trưng khác của tỉnh.

Tỉnh Tây Ninh thuộc vùng Đông Nam Bộ - Việt Nam, làm vị trí cầu nối giữa Tp.HCM và thủ đô Phnôm Pênh – Vương quốc Campuchia (là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam); Phía Tây và Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 240 km với 2 cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài và Xa Mát, 2 cửa khẩu chính, 12 cửa khẩu phụ. Lĩnh vực thế mạnh của tỉnh Tây Ninh về các sản phẩm nông sản như sản xuất mía đường, tinh bột khoai mì, chế biến cao su và hạt điều. Ngoài ra còn có các sản phẩm đặc trưng nổi tiếng như bánh tráng, muối ớt, mãng cầu, bánh kẹo đậu phông, chao, trà túi lọc,…cùng một số sản phẩm đặc trưng khác.

Do vậy, nhằm đẩy mạnh  hoạt động kết nối giao thương giữa 2 tỉnh, tạo cơ hội liên kết hợp tác phát triển thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, hình thành mối liên kết bền vững. Đây là cơ hội để doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi, giao thương nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh doanh cho các sản phẩm chủ lực của địa phương.

 Nâng cao chất lượng đối với hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác xúc tiến thương mại nói chung và công tác đẩy mạnh nâng cao thương hiệu, hình ảnh cho doanh nghiệp nói riêng. Tăng cường mối liên kết, phát triển trong công tác xúc tiến thương mại giữa hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa -Vũng Tàu nói riêng và các tỉnh ở khu vực Đông Nam Bộ nói chung. Qua đó thể hiện sự đồng hành của chính quyền địa phương đối với cộng đồng doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn hiện nay, đáp ứng nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp. 

 

Nguồn thông tin từ TTXTTM

7/6/2018 11:00 AMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinKết nối giao thương giữa Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu/PublishingImages/2018-07/H 1_Key_06072018105644.jpg
Thực hiện Kế hoạch Xúc tiến Thương mại năm 2018 và nhu cầu của Doanh nghiệp hai bên, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu, sự kiện diễn ra từ ngày 05/7 đến ngày 06/7/2018 tại Siêu thị AuChan – Trung tâm Thương mại Thành Thành Công Tây Ninh, nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh.
7/6/2018 11:00 AMYesĐã ban hành
Mời tham dự Chương trình Hội nghị Kết nối giao thương giữa Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng TàuMời tham dự Chương trình Hội nghị Kết nối giao thương giữa Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu
Nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Đây là cơ hội để doanh nghiệp gặp gỡ, trao đổi, giao thương nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh doanh cho các sản phẩm chủ lực của địa phương.

Trân trọng kính mời quý Doanh nghiệp đăng ký tham gia sự kiện:

- Thời gian và địa điểm: 05-06/7/2018 tại Khuôn viên bãi giữ xe ô tô, Siêu thị AuChan – Trung tâm Thương mại Thành Thành Công Tây Ninh(217-219 Đường 30/4, Phường 3, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh).

- Số lượng Doanh nghiệp tham dự: 50 Doanh nghiệp (Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa Vũng Tàu).

- Chi phí tham dự: miễn phí.

- Thông tin liên hệ đăng ký và hỗ trợ:

Trung tâm Xúc tiến Thương mại trực thuộc Sở Công Thương

Anh Lê Khánh Trình – Phó Giám đốc Trung tâm XTTM – ĐT: 0938844811

Anh Nguyễn Hoàng Tuấn –Trung tâm XTTM – ĐT: 0933901202 


Trung tâm XTTM - SCT


7/6/2018 8:00 AMĐã ban hànhXúc tiến thương mạiTinMời tham dự Chương trình Hội nghị Kết nối giao thương giữa Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu/PublishingImages/2018-07/H 2_Key_06072018082528.jpg
Nhằm giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hai tỉnh gặp gỡ, trao đổi, giới thiệu, quảng bá sản phẩm và thương hiệu, thỏa thuận hợp tác kinh doanh, Sở Công Thương giao Trung tâm Xúc tiến Thương mại Tây Ninh phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị kết nối giao thương giữa doanh nghiệp hai tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu.
7/6/2018 8:00 AMYesĐã ban hành
Hoạt động xuất nhập khẩu tỉnh Tây Ninh 6 tháng đầu năm 2018Hoạt động xuất nhập khẩu tỉnh Tây Ninh 6 tháng đầu năm 2018
6 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nhờ vào sự đóng góp của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như: hạt điều; sắn và các sản phẩm từ sắn; vải các loại; hàng dệt, may; giày, dép các loại; nguyên phụ liệu dệt may, da giày;… đều có kim ngạch tăng. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.834,8 triệu USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ (đạt 41,9% so với kế hoạch).

Nhóm hàng nông sản kim ngạch xuất khẩu ước đạt 307,4 triệu USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 16,8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 1.492,6 triệu USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 81,2% so với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Nhóm hàng hoá khác ước đạt 34,9 triệu USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 2% so với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

Một số mặt hàng chủ yếu có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước như sau: Hạt điều ước đạt 91,7 triệu USD, tăng 18%;  sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 138,7 triệu USD, tăng 33,4%; hàng dệt may ước đạt 338,3 triệu USD, tăng 8,44%; Vải các loại ước đạt 183,3 triệu USD, tăng 16,2%; giày, dép các loại ước đạt 355,1 triệu USD, tăng 13,9%; nguyên phụ liệu dệt may, da, giày ước đạt 93,1 triệu USD, tăng 32,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác ước đạt 51,1 triệu USD, tăng 180%; phương tiện vận tải và phụ tùng ước đạt 197,3 triệu USD, tăng 1,1%... Riêng mặt hàng xơ, sợi dệt các loại ước đạt 65,8 triệu USD giảm.

Biểu: KNXK  6 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ (ĐVT: Triệu USD)

H 1.1.jpg


Kim ngạch nhập khẩu tiếp tục được kiểm soát 6 tháng đầu năm 2018, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.280,4 triệu USD, giảm 2% so với cùng kỳ (đạt 42,1% so với kế hoạch).

Nhóm cần nhập khẩu ước đạt 1.159,3 triệu USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 90,5% so với tổng kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh. Nhóm cần kiểm soát ước đạt 20,66 triệu USD, giảm 11,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 1,6% so với tổng kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh. Nhóm hàng hoá khác ước đạt 100,46 triệu USD, giảm 46,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 7,9% so với tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có kim ngạch tăng so với cùng kỳ: bông các loại ước đạt 130,1 triệu USD, tăng 8,37%; xơ, sợi dệt các loại ước đạt 129 triệu USD, tăng 72,8%; nguyên phụ liệu dệt may, da, giày ước đạt 144,5 triệu USD, tăng 19,6%; ...

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ: cao su ước đạt 57,73 triệu USD, giảm 34,46%; hạt điều ước đạt 111,8 triệu USD, giảm 25,63%; vải các loại ước đạt 150,1 triệu USD, giảm 7,1%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng ước đạt 191,3 triệu USD, giảm 1,1%;...

Biểu: KNNK 6 tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ (ĐVT: Triệu USD)

H 2.1.jpg



Nguồn số liệu: Cục Hải quan

(Số liệu từ ngày 08/5/2018 đến ngày 07/6/2018)

Phòng KHTH - SCT






7/6/2018 12:00 AMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinHoạt động xuất nhập khẩu tỉnh Tây Ninh 6 tháng đầu năm 2018/PublishingImages/2018-07/News_Key_05072018231402.png
6 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nhờ vào sự đóng góp của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như: hạt điều; sắn và các sản phẩm từ sắn; vải các loại; hàng dệt, may; giày, dép các loại; nguyên phụ liệu dệt may, da giày;… đều có kim ngạch tăng. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.834,8 triệu USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ (đạt 41,9% so với kế hoạch).
7/6/2018 12:00 AMYesĐã ban hành
Hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 6 năm 2018Hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 6 năm 2018
Tháng 6, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 301 triệu USD, so tháng trước giảm 2,5%; (giảm 6,5% so với tháng cùng kỳ năm trước). Luỹ kế, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.834,8 triệu USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ, ước đạt 41,9% so với kế hoạch năm 2018.

Biểu: KNXK nhóm hàng so với tháng trước và tháng cùng kỳ ( ĐVT: Triệu USD)

H 1.jpg


* Nhóm hàng nông sản

Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 47,5 triệu USD, so tháng trước tăng 9,7% (so với tháng cùng kỳ năm trước giảm 4,9% ), chiếm tỷ trọng 15,8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Luỹ kế, ước đạt 307,4 triệu USD (so với cùng kỳ tăng 22,7%).

Một số mặt hàng chủ yếu như sau:

Hạt điều ước đạt 17,8 triệu USD, so với tháng trước giảm 8,5%, chiếm tỷ trọng 37,4% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản. Luỹ kế, ước đạt 91,7 triệu USD, so với cùng kỳ giảm 10,9%.

Sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 15,2 triệu USD, giảm 6% so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 32% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản. Luỹ kế, ước đạt 138,7 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 0,53%.

Cao su ước đạt 13,7 triệu USD, tăng 105,1% so với tháng trước, chiếm tỷ trọng 28,8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản. Luỹ kế, ước đạt 72,65 triệu USD, so với cùng kỳ giảm 5,6%.

* Nhóm hàng công nghiệp chế biến

 Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 247,4 triệu USD, so với tháng trước giảm 4,4% (so với tháng cùng kỳ năm trước giảm 7,3%), chiếm tỷ trọng 82,2% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Luỹ kế, ước đạt 1.492,6 triệu USD so với cùng kỳ tăng 12,7%.

Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như sau:

Sơ, xợi dệt các loại: ước đạt 8,6 triệu USD, so tháng trước giảm 36,2% (so với tháng cùng kỳ giảm 33%), chiếm tỷ trọng 3,5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 65,8 triệu USD so với cùng kỳ giảm 16,1%).

Hàng dệt may: ước đạt 68,1 triệu USD so với tháng trước tăng 24,1% (so với tháng cùng kỳ tăng 5,4%), chiếm tỷ trọng 27,5% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 338,3 triệu USD so với cùng kỳ tăng 8,4%.

Giày, dép các loại: ước đạt 62 triệu USD, so tháng trước tăng 16,5% (so với tháng cùng kỳ năm trước giảm 9%), chiếm tỷ trọng 25,1% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 355,1 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 13,9%.

Vải các loại: ước đạt 26,9 triệu USD, so với tháng trước giảm 21,5% (so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 22,4%), chiếm tỷ trọng 10,9% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 183,3 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 16,2%.

Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: ước đạt 19,8 triệu USD, so với tháng trước giảm 26,5% (so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 21,5%), chiếm tỷ trọng 8% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 93,1 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 32,1%.

Phương tiện vận tải và phụ tùng: ước đạt 25 triệu USD, so tháng trước giảm 35,7% (so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 24,4%), chiếm tỷ trọng 10% so với tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến. Luỹ kế, ước đạt 197,3 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 1,1%.

* Nhóm hàng hoá khác: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 6 triệu USD, so với tháng trước giảm 7,8% (so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 20,7%). Luỹ kế, ước đạt 34,9 triệu USD, so với cùng kỳ giảm 7%.

Biểu: KNXK tháng 6/2018 so với tháng trước và tháng cùng kỳ (ĐVT: Triệu USD)

H 2.jpg


Tháng 6, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 183,2 triệu USD, giảm 23,6% so với tháng trước (giảm 31,6% so với tháng cùng kỳ năm trước). Lũy kế, ước đạt 1.280,4 triệu USD, giảm 2% so với cùng kỳ ước đạt 42,1% kế hoạch năm.

* Nhóm hàng cần nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 173,7 triệu USD, giảm 24,1% so với tháng trước (giảm 28,7% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 94,8% so với tổng kim ngạch nhập khẩu. Luỹ kế, ước đạt 1.159,3 triệu USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ.

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như sau:

Xơ, sợi dệt các loại: ước đạt 27,2 triệu USD, giảm 0,1% so với tháng trước (tăng 45,5% so với tháng cùng kỳ). Luỹ kế, ước đạt 129 triệu USD, tăng 72,8% so với cùng kỳ.

Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: ước đạt 25,3 triệu USD, giảm 34,9% so với tháng trước (giảm 10,2% so với tháng cùng kỳ). Luỹ kế, ước đạt 144,5 triệu USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ.

Máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng: ước đạt 22,3 triệu USD, giảm 38,8% so với tháng trước (giảm 32,6% so với tháng cùng kỳ). Luỹ kế, ước đạt 191,3 triệu USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ.

Hạt điều: ước đạt 20,3 triệu USD, giảm 31% so với tháng trước (giảm 45,8% so với tháng cùng kỳ). Luỹ kế, ước đạt 111,8 triệu USD, giảm 25,6% so với cùng kỳ.

Bông các loại: ước đạt 6,4 triệu USD, giảm 49,3% so với tháng trước (giảm 81,5% so với tháng cùng kỳ). Luỹ kế, ước đạt 130,1 triệu USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ.

* Nhóm hàng cần kiểm soát

Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,4 triệu USD, giảm 0,3% so với tháng trước (giảm 35,5% so với tháng cùng kỳ năm trước), chiếm tỷ trọng 1,8% so với tổng kim ngạch nhập khẩu. Luỹ kế, ước đạt 20,7 triệu USD, giảm 11,2% so với cùng kỳ.

Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm: rau quả (0,07 triệu USD); chế phẩm thực phẩm khác (0,33 triệu USD); phế liệu sắt thép (0,04 triệu USD); Đá quý, kim loại quý và sản phẩm (2,2 triệu USD); xe máy và linh kiện phụ tùng xe máy (0,01 triệu USD).

* Nhóm hàng hoá khác: Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 6,1 triệu USD giảm 17,5 % so với tháng trước (giảm 68,1% so với tháng cùng kỳ), chiếm 3,3% so với tổng kim ngạch nhập khẩu. Luỹ kế, ước đạt 100,5 triệu USD, giảm 46,4% so với cùng kỳ.

Biểu: KNNK tháng 6/2018 so với tháng trước và tháng cùng kỳ (ĐVT: Triệu USD)

H 3.jpg


Nguồn số liệu: Cục Hải quan

(Số liệu từ ngày 08/5 đến ngày 07/6/2018)

Phòng KHTH - SCT




7/5/2018 11:00 PMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinHoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 6 năm 2018/PublishingImages/2018-07/News_Key_05072018231141.png
Tháng 6, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 301 triệu USD, so tháng trước giảm 2,5%; (giảm 6,5% so với tháng cùng kỳ năm trước). Luỹ kế, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.834,8 triệu USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ, ước đạt 41,9% so với kế hoạch năm 2018.
7/5/2018 11:00 PMYesĐã ban hành
Hỗ trợ thông tin về thị trường các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sảnHỗ trợ thông tin về thị trường các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản
Trong thời gian qua, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương luôn quan tâm, chú trọng triển khai nhiều chính sách, giải pháp nhằm hỗ trợ thúc đẩy tiêu thụ, phát triển thị trường cho các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản như đàm phán mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và thương mại, kết nối thúc đẩy tiêu thụ, xúc tiến thương mại, thông tin tuyên truyền.

Các công tác này đã được nhiều kết quả tích cực, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 2013 - 2017 bình quân đạt 5,5%/năm với kim ngạch đạt 28,8 tỷ USD/năm, góp phần tiêu thụ ổn định hàng hoá và nâng cao thu nhập, dời sống cho nông dân.

Để hỗ trợ các địa phương, Hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp nắm bắt thông tin về tình hình cung cầu, giá cả, chính sách quản lý xuất nhập khẩu ... nhằm kịp thời ứng phó với biến động của thị trường, định hướng phát triển sản phẩm và xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã xây dựng, tổng hợp và biên tập "Bản tin thị trường nông, lâm, thuỷ sản". Bản tin này được đăng tải định kỳ hàng tuần trên Công thông tin điện tử của Bộ Công Thương (http://www.moit.gov.vn/ban-tin-thi-truong-nong-lam-thuy-san).

Sở Công Thương xin thông tin để quý cơ quan, doanh nghiệp biết và tham khảo. Trường hợp cần hỗ trợ thêm thông tin, đề nghị liên hệ: Phòng Xuất nhập khẩu nông, lâm, thuỷ sản (Điện thoại: 024.22205440, 024.22205311; Fax: 024.22205520; Email: huyenngt@moit.gov.vn, oanhvt@moit.gov.vn)./.

Phòng KHTH - SCT

7/2/2018 5:00 PMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinHỗ trợ thông tin về thị trường các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản/PublishingImages/2018-07/News_Key_02072018165146.png
Trong thời gian qua, thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Công Thương luôn quan tâm, chú trọng triển khai nhiều chính sách, giải pháp nhằm hỗ trợ thúc đẩy tiêu thụ, phát triển thị trường cho các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản như đàm phán mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và thương mại, kết nối thúc đẩy tiêu thụ, xúc tiến thương mại, thông tin tuyên truyền.
7/2/2018 5:00 PMYesĐã ban hành
Hoạt động Công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 6 năm 2018Hoạt động Công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 6 năm 2018
Tháng 6 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+2,02%) và tháng cùng kỳ (+16,45%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+02,09%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+5,66%), khai khoáng (+1,69%). Chỉ số IIP trong tháng tăng do tác động từ một số ngành có chỉ số IIP và sản phẩm tăng, như: dệt, sản xuất sản phẩm từ cao su & plastic, trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan. Riêng công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm giảm mạnh (13,47%) do ảnh hưởng từ nhà máy Đường Thành Thành Công ngưng hoạt động (kết tinh từ đường thô).

Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so tháng trước: Bột mì (+5,78%), giầy các loại(+8,55%), quần áo các loại (+3,48%), vỏ, ruột xe các loại (+10,83%), clanke(+83,50%); các sản phẩm chủ yếu giảm so tháng trước: đường các loại, gạch các loại, xi măng, điện thương phẩm.

Biểu 1: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 so tháng trước và tháng cùng kỳ (%)

H 1.jpg


Lũy kế so cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,27%; phân theo ngành kinh tế: công nghiệp chế biến, chế tạo (+15,11%), sản xuất phân phối điện (+12,02%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+43,09%). Riêng công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm so cùng kỳ (-22,09%). Các ngành công nghiệp chủ yếu đều tăng so cùng kỳ: dệt (+34,73%), sản xuất trang phục (+14,62%), sản phẩm từ cao su&plastic (+30,22%), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+18,49%), da và các sản phẩm có liên quan (+8,03%). Phần lớn các sản phẩm chủ yếu tăng so cùng kỳ, riêng sản phẩm clanke giảm mạnh so cùng kỳ (-32,86%), tinh bột sắn (-1,26%).

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá ss 2010) ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 đạt 35.388,075 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 15,67%. Phân theo loại hình kinh tế: khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 23.484,433 tỷ đồng tăng (+20,72%) do một số dự án mới (dệt, vỏ ruột xe, may trang phục) đi vào hoạt động ổn định và tăng công suất theo thiết kế, trong đó GTSX của khu vực FDI tại các khu, cụm công nghiệp chiếm 90,0% so tổng GTSX của khu vực FDI và chiếm 60% so GTSX của toàn ngành công nghiệp tỉnh; kinh tế nhà nước, ngoài nhà nước tăng trưởng nhẹ so cùng kỳ 2016. Phân theo ngành kinh tế: công nghiệp chế biến, chế tạo (+15,77%), sản xuất phân phối điện (+7,71%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+19,49%).

Các ngành công nghiệp chủ yếu có GTSX tăng so cùng kỳ: Sản xuất lương thực và đồ uống (+3,49%), trong đó GTSX của 3 nhà máy đường (+0,79%), dệt may (+24,09%), sơ chế da (+10,44%), cao su &plastic (+37,93%), sản xuất chất khoáng phi kim loại (+12,26%), trong đó GTSX nhà máy xi măng (+3,72%) chiếm tỷ trọng GTSX 71% so ngành này. Xét về tỷ trọng GTSX so toàn ngành công nghiệp: dệt may chiếm 25,74%, SX lương thực thực phẩm và đồ uống chiếm 22,79% (trong đó GTSX chế biến đường chiếm 26,98% so ngành này), sơ chế da (17,61%),Sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic(17,57%), khoáng phi kim loại chiếm 3,36% (trong đó GTSX chế biến xi măng chiếm 71,07% so ngành này).

Biểu 2: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng/2018 so với cùng kỳ (%) 

H 2.jpg


Tính chung 6 tháng, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển và tăng khá (+15,27%) so cùng kỳ năm 2017 (6 tháng 2017 tăng 15,03%). Chỉ số sản xuất tăng, tác động chủ yếu từ các ngành có GTSX chiếm tỷ trọng cao và sản phẩm tăng như: chế biến thực phẩm (đường các loại), dệt, xi măng, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (giầy các loại), sản xuất cao su & plastic (vỏ ruột xe các loại)./. 

Phòng QLCN - SCT


6/21/2018 6:00 PMĐã ban hànhCông nghiệpTinHoạt động Công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 6 năm 2018/PublishingImages/2018-06/News_Key_21062018171110.png
Tháng 6 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+2,02%) và tháng cùng kỳ (+16,45%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+02,09%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+5,66%), khai khoáng (+1,69%). Chỉ số IIP trong tháng tăng do tác động từ một số ngành có chỉ số IIP và sản phẩm tăng, như: dệt, sản xuất sản phẩm từ cao su & plastic, trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan. Riêng công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm giảm mạnh (13,47%) do ảnh hưởng từ nhà máy Đường Thành Thành Công ngưng hoạt động (kết tinh từ đường thô).
6/21/2018 6:00 PMYesĐã ban hành
Sở Công Thương phổ biến văn bản hướng dẫn thực hiện hợp quy sản phẩm dệt may theo quy định tại QCVN: 01/2017/BCTSở Công Thương phổ biến văn bản hướng dẫn thực hiện hợp quy sản phẩm dệt may theo quy định tại QCVN: 01/2017/BCT
Sở Công Thương gửi kèm Công văn số 3912/BCT-KHCN của Bộ Công Thương ngày 21/5/2018 về việc hướng dẫn thực hiện hợp quy sản phẩm dệt may theo quy định tại QCVN: 01/2017/BCT.

Các doanh nghiệp hoạt động dệt may trên địa bàn tỉnh căn cứ Công văn số 3912/BCT-KHCN của Bộ Công Thương để thực hiện đúng theo quy định. 

Công văn 3912.BCT-KHCN.PDF

Thông tư_07_2018.pdf

Trong quá trình thực hiện có khó khăn, vướng mắc, các đơn vị liên hệ phòng Kỹ thuật an toàn Môi trường – Sở Công Thương, số điện thoại 02763.820273 để được hướng dẫn.

Phòng KTATMT - SCT

6/10/2018 8:00 AMĐã ban hànhKỹ thuật an toàn-Môi trườngTinSở Công Thương phổ biến văn bản hướng dẫn thực hiện hợp quy sản phẩm dệt may theo quy định tại QCVN: 01/2017/BCT/PublishingImages/2018-06/News_Key_10062018075739.png
Sở Công Thương gửi kèm Công văn số 3912/BCT-KHCN của Bộ Công Thương ngày 21/5/2018 về việc hướng dẫn thực hiện hợp quy sản phẩm dệt may theo quy định tại QCVN: 01/2017/BCT.
6/10/2018 8:00 AMYesĐã ban hành
Hoạt động trên địa bàn tỉnh công nghiệp tháng 5/2018Hoạt động trên địa bàn tỉnh công nghiệp tháng 5/2018
Tháng 5 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+7,34%) và tăng cao so với tháng cùng kỳ (+23,61%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+7,72%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+1,30%). Chỉ số IIP trong tháng tăng do tác động từ một số ngành có chỉ số IIP và sản phẩm tăng khá, như: sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất cao su & plastic, trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan.

Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so tháng trước: Bột mì (+17,74%), giầy các loại(+6,27%), quần áo các loại (+5,71%), vỏ, ruột xe các loại (+11,58%), clanke(+93,34%); các sản phẩm giảm: đường các loại, gạch các loại.

Biểu 1: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 so tháng trước và tháng cùng kỳ (%)

H 1.jpg

Lũy kế so cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,89%; phân theo ngành kinh tế: công nghiệp chế biến, chế tạo (+14,68%), sản xuất phân phối điện (+13,22%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+44,37%). Riêng công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm so cùng kỳ (-22,14%). Hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu tăng và tăng cao so cùng kỳ: dệt (+39,39%), sản xuất trang phục (+12,53%), sản phẩm từ cao su&plastic (+31,22%), sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (+17,18%). Phần lớn các sản phẩm chủ yếu tăng so cùng kỳ, riêng sản phẩm clanke giảm mạnh so cùng kỳ (-28,84%).

Biểu 2: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 5 tháng/2018 so với cùng kỳ (%)

H 2.jpg

Tính chung 5 tháng, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển và tăng khá (+14,89%) so cùng kỳ năm 2017 (5 tháng 2017 tăng 14,78%). Chỉ số sản xuất tăng, tác động chủ yếu từ các ngành có GTSX chiếm tỷ trọng cao và sản phẩm tăng như: chế biến thực phẩm (tinh bột mì, đường các loại), dệt, xi măng, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (giầy các loại), sản xuất cao su & plastic (vỏ ruột xe các loại),./.

Phòng QLCN - SCT



5/22/2018 8:00 AMĐã ban hànhCông nghiệpTinHoạt động trên địa bàn tỉnh công nghiệp tháng 5/2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tháng 5 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+7,34%) và tăng cao so với tháng cùng kỳ (+23,61%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+7,72%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+1,30%). Chỉ số IIP trong tháng tăng do tác động từ một số ngành có chỉ số IIP và sản phẩm tăng khá, như: sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất cao su & plastic, trang phục, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan.
5/22/2018 8:00 AMYesĐã ban hành
Quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mạiQuy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại
Ngày 20/4/2018,  Bộ trưởng Bộ Công Thương – ông Trần Tuấn Anh đã ký ban hành Thông tư số 06/2018/TT-BCT Quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại, hiệu lực từ ngày 15/6/2018.

Thông tư này quy định chi tiết về bên liên quan trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, các quy định về cung cấp, thu thập thông tin, tài liệu và bảo mật thông tin, tài liệu, sử dụng tiếng nói, chữ viết trong quá trình điều tra. Quy định về quản lý nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng sẽ xem xét miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại tạm thời, biện pháp phòng vệ thương mại chính thức đối với một số hàng hóa nhập khẩu bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại có đủ một trong những điều kiện đúng quy định.

Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu có đặc điểm khác biệt với hàng hóa tương tự. Hơn nữa, hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước mà hàng hóa tương tự, hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất bởi ngành sản xuất trong nước đó không thể thay thế được. Cùng đó là khối lượng hàng hóa tương tự, hàng hóa cạnh tranh trực tiếp sản xuất trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước.

Ngoài ra, hàng hóa nhập khẩu là sản phẩm đặc biệt của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước. Hoặc hàng hóa tương tự, hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước không được bán trên thị trường trong nước trong cùng điều kiện thông thường.

Thời hạn miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với các hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại sau khi Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại tạm thời hoặc chính thức hoặc quyết định về kết quả rà soát biện pháp phòng vệ thương mại, Cơ quan Điều tra có nghĩa vụ thông báo về việc tiếp nhận hồ sơ miễn trừ.

Cũng theo Thông tư này, đối tượng đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa bị điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Cùng đó là các tổ chức, cá nhân sử dụng hàng hóa bị điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để sản xuất.

06.2018.TT-BCT.pdf

Phòng KHTH - SCT

5/19/2018 6:00 PMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinQuy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại/PublishingImages/2018-05/phong-ve-thuong-mai_TZFG_Key_19052018174241.jpeg
Ngày 20/4/2018,  Bộ trưởng Bộ Công Thương – ông Trần Tuấn Anh đã ký ban hành Thông tư số 06/2018/TT-BCT Quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại, hiệu lực từ ngày 15/6/2018.
5/19/2018 6:00 PMYesĐã ban hành
Khắc phục tình trạng các lô hàng thuỷ sản của Việt Nam bị nước ngoài trả vềKhắc phục tình trạng các lô hàng thuỷ sản của Việt Nam bị nước ngoài trả về
Trong hai thập kỷ trở lại đây, ngành Thủy sản Việt Nam đã đạt những bước phát triển vượt bậc, đóng góp ngày càng nhiều cho tăng trưởng kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng trưởng nhanh với mức tăng bình quân gần 15%/năm, từ mức thấp 550 triệu USD năm 1995 lên 8,3 tỷ USD năm 2017. Tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đã góp phần vào quá trình tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế của cả nước nói chung.

Tuy nhiên, dù đang có những lợi thế nhưng năm 2018, ngành Thủy sản vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, không thể chủ quan. Cụ thể, thời gian qua xuất hiện tình trạng đáng lo ngại là các lô hàng thủy sản xuất khẩu bị cảnh báo vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu mặc dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao. Có thể chỉ ra một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kể trên như:

Thứ nhất, một số hóa chất, kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản nhưng vẫn được sử dụng trong y tế, công nghiệp và chăn nuôi động vật trên cạn. Việc phối hợp để kiểm soát chưa chặt chẽ, các hộ nuôi thủy sản có thể dễ dàng tiếp cận và lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản.

Thứ hai, vẫn còn hiện tượng nhập lậu hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y không rõ nguồn gốc xuất xứ và bị lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản.

Thứ ba, việc quản lý, cấp phép cũng như kiểm tra, giám sát lưu thông, mua bán, sử dụng các sản phẩm thuốc thú y, sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản chưa chặt chẽ, dẫn đến việc các hộ nuôi lạm dụng dẫn đến gây tồn dư trong sản phẩm.

Thứ tư, phần lớn các cơ sở nuôi trồng, cơ sở thu mua thủy sản của Việt Nam nhỏ lẻ, chưa đáp ứng đầy đủ quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, vẫn còn một số cơ sở vì lợi ích trước mắt đã sử dụng hóa chất, kháng sinh để bảo quản thủy sản.

Thứ năm, chương trình quản lý chất lượng của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản chưa được thường xuyên rà soát, cập nhật để kiểm soát hiệu quả vệ sinh, an toàn thực phẩm.

Trước vấn đề trên có thể ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh, uy tín sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, làm giảm hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và tác động tiêu cực đến đời sống của ngư dân và người nuôi trồng thủy sản, ngày 04/04/2018, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 09/CT-TTg yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách pháp luật trong quản lý an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu theo hướng tạo điều kiện tối đa cho người dân, doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các thị trường nhập khẩu; Quản lý chặt chẽ việc cấp phép lưu hành thuốc thú y, chất xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản; thường xuyên tổ chức rà soát, loại bỏ các sản phẩm kém chất lượng, không an toàn ra khỏi Danh mục các sản phẩm được phép lưu hành; Tổ chức giám sát tồn dư hóa chất độc hại trong thủy sản nuôi để kịp thời phát hiện, cảnh báo, truy xuất, xử lý tận gốc đối với sản phẩm, cơ sở vi phạm; Chỉ đạo tăng cường thanh tra, kiểm tra (đặc biệt là thanh tra, kiểm tra đột xuất khi cơ sở có dấu hiệu vi phạm) trong sản xuất, lưu thông, mua bán, sử dụng thuốc thú y, chất xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản và việc lạm dụng kháng sinh trong quá trình bảo quản thủy sản; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật...

Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công an tổ chức kiểm soát chặt chẽ hóa chất kháng sinh nhập khẩu sử dụng trong công nghiệp nhưng bị cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản; Tăng cường công tác xử lý các vụ việc tranh chấp thương mại quốc tế, đặc biệt là phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu thủy sản...

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo các đơn vị liên quan từ trung ương đến địa phương tích cực phối hợp với các đơn vị thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc điều tra, thu thập thông tin, triệt phá dứt điểm các đường dây nhập lậu, tàng trữ, lưu thông, buôn bán chất cấm, chất xử lý, cải tạo môi trường và thuộc thú y ngoài danh mục được phép lưu hành; Tham gia tổ công tác liên ngành kiểm tra, thanh tra các cơ sở có dấu hiệu vi phạm trong sản xuất, lưu thông, mua bán, sử dụng thuốc thú y, chất xử lý, cải tạo môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản và việc lạm dụng kháng sinh trong bảo quản thủy sản; phát hiện những vấn đề tiêu cực và có biện pháp xử lý đối với cá nhân, doanh nghiệp cố ý vi phạm. Đồng thời, giao Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương cập nhật thông tin, thông báo cho doanh nghiệp về thay đổi trong chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, yêu cầu kiểm dịch, điều kiện nhập khẩu của các nước đối với hàng thủy sản...

Phòng KHTH - SCT

5/8/2018 4:00 PMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpBài viếtKhắc phục tình trạng các lô hàng thuỷ sản của Việt Nam bị nước ngoài trả về/PublishingImages/2018-05/tom-viet-nam2_Key_08052018152858.jpg
Trong hai thập kỷ trở lại đây, ngành Thủy sản Việt Nam đã đạt những bước phát triển vượt bậc, đóng góp ngày càng nhiều cho tăng trưởng kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng trưởng nhanh với mức tăng bình quân gần 15%/năm, từ mức thấp 550 triệu USD năm 1995 lên 8,3 tỷ USD năm 2017. Tăng trưởng xuất khẩu thủy sản đã góp phần vào quá trình tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế của cả nước nói chung.
5/8/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 07/2018/TT-BCT sửa đổi Thông tư số 21/2017/TT-BCTBộ Công Thương ban hành Thông tư số 07/2018/TT-BCT sửa đổi Thông tư số 21/2017/TT-BCT
Ngày 26/4/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 07/2018/TT-BCT sửa đổi Thông tư số 21/2017/TT-BCT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may.

Theo Thông tư này, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019 thay vì ngày 01/5/2018 như công bố trước đây tại Thông tư số 21/2017/TT-BCT.

Trước đó, ngày 23/10/2017, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 21/2017/TT-BCT ban hành Quy chuẩn QCVN 01:2017/BCT. Theo Quy chuẩn này, mức giới hạn về hàm lượng formaldehyt không được vượt quá 30 mg/kg đối với sản phẩm dệt may cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi; 75 mg/kg đối với sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da và 300 mg/kg đối với sản phẩm không tiếp xúc trực tiếp với da. Đối với hàm lượng amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo không vượt quá 30mg/kg.

Ngoài quy định về hàm lượng formaldehyt, amin thơm, Thông tư số 21/2017/TT-BCT còn quy định các sản phẩm, hàng hóa trước khi đưa ra tiêu thụ trên thị trường Việt Nam  phải được công bố phù hợp quy định tại quy chuẩn này và gắn dấu hợp quy CR theo các quy định khác; cho phép doanh nghiệp được công bố hợp quy dưới hai hình thức là tự công bố hoặc dựa trên kết quả chứng nhận, giám định của tổ chức được chỉ định.

Hồ sơ công bố hợp quy sẽ được gửi đến Sở Công Thương để Sở Công Thương đăng trên Cổng thông tin của Sở và báo cáo Bộ Công Thương số lượng sản phẩm công bố hợp quy vào tuần cuối cùng của quý II và quý IV hàng năm. Sau khi gửi hồ sơ là doanh nghiệp đã được phép đưa hàng hóa ra thị trường.

Các sản phẩm như: hành lý của người nhập cảnh, tài sản di chuyển của tổ chức, các nhân trong định mức miễn thuế; hàng mẫu để quảng cáo không có giá trị sử dụng để nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất; hàng hóa nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu tại hội chợ… sẽ không chịu sự quản lý của Thông tư này.

Thông tư 07/2018/TT-BCT có hiệu lực từ ngày ký. Thông tin chi tiết về Thông tư số 07/2018/TT-BCT và Thông tư số 21/2017/TT-BCT có thể tham khảo tại đây.

THONG TU 21.pdf

Thông tư 07.pdf

Phòng KTATMT - SCT

5/8/2018 4:00 PMĐã ban hànhKỹ thuật an toàn-Môi trườngTinBộ Công Thương ban hành Thông tư số 07/2018/TT-BCT sửa đổi Thông tư số 21/2017/TT-BCT/PublishingImages/2018-05/Thông-tư-300x200_Key_08052018153500.jpg
Ngày 26/4/2018, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 07/2018/TT-BCT sửa đổi Thông tư số 21/2017/TT-BCT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyt và các amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may.
5/8/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 4 năm 2018Hoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 4 năm 2018
Kim ngạch xuất khẩu tháng 4 năm 2018 ước đạt 298,2 triệu USD, so tháng trước tăng 58,2%; (giảm 24,68% so với tháng cùng kỳ năm trước). Luỹ kế, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.195 triệu USD, tăng 16,73% so với cùng kỳ, ước đạt 25% so với kế hoạch năm 2018.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với tháng trước: hạt điều tăng 169,5%  (tăng 11 triệu USD); sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 24,94%; cao su tăng 8,91%; vải các loại tăng 60,8% (tăng 12 triệu USD); hàng dệt may tăng 70,8% (tăng 21,3 triệu USD); giày, dép các loại tăng 77,4% (tăng 26 triệu USD).

Biểu: Kim ngạch xuất khẩu tháng 4/2018 so với tháng trước (ĐVT: Triệu USD)

H 1.jpg

Một số mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang thị trường các nước trong tháng 4 năm 2018:

- Giày, dép các loại ước đạt 59,7 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu: Mỹ; Bỉ; Đức; Trung Quốc; Hà Lan; Anh; Mexico;...

- Hàng dệt, may ước đạt 51,4 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu: Hoa Kỳ; Trung quốc; Nhật Bản; Canada; Hà Lan; Hàn Quốc;...

- Hạt điều ước đạt  17,6 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu: Hoa Kỳ; Hà Lan; Anh; Đức; Trung Quốc; ...

- Nguyên phụ liệu dệt, may, da giày ước đạt 21,6 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu: Trung Quốc; Hong Kong; Indonesia; Philippines; Campuchia; ...

- Vải các loại ước đạt 31,9 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu: Trung Quốc; Campuchia; Hoa Kỳ, Indonesia; Singapore;...

Kim ngạch nhập khẩu tháng 4 năm 2018, ước đạt 245,1 triệu USD, tăng 42,2% so với tháng trước (giảm 30,85% so với tháng cùng kỳ năm trước). Lũy kế, ước đạt 823 triệu USD, giảm 1,87% so với cùng kỳ ước đạt 24,2% kế hoạch năm.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng so với tháng trước: hạt điều 87,5% (tăng 41,9 triệu USD); cao su tăng 45,9% (tăng 3,1 triệu USD); bông các loại tăng 29,61% (tăng 6,3 triệu USD); vải các loại tăng 64,5% (tăng 10,6 triệu USD); nguyên phụ liệu dệt, may, da giày tăng 70,6% (tăng 13,8 triệu USD).

Biểu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 4/2018 so với tháng trước (ĐVT: Triệu USD)

H 2.jpg

Một số mặt hàng chủ yếu nhập khẩu từ thị trường các nước trong tháng 4 năm 2018:

- Cao su ước đạt 9,8 triệu USD, thị trường nhập khẩu chủ yếu: Campuchia; Hàn Quốc; Thái Lan; Indonesia; Trung Quốc; Bỉ ....

- Hạt điều ước đạt 31,9 triệu USD, thị trường nhập khẩu chủ yếu: Tanzania; Campuchia; ...

- Nguyên phụ liệu dệt, may, da giày ước đạt 33,32 triệu USD, thị trường nhập khẩu chủ yếu: Trung Quốc; Phần Lan; Đan Mạch; Canada; Ý; Đài Loan; Hoa Kỳ; Hàn Quốc; ... 

- Sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 5,2 triệu USD, thị trường nhập khẩu là Campuchia.

Nguồn số liệu: Cục Hải quan

(Số liệu từ ngày 16/3 đến ngày 15/4/2018)

Phòng KHTH - SCT


5/4/2018 6:00 AMĐã ban hànhKế hoạch-Tổng hợpTinHoạt động xuất, nhập khẩu tỉnh Tây Ninh tháng 4 năm 2018/PublishingImages/2018-05/News_Key_04052018055958.png
Kim ngạch xuất khẩu tháng 4 năm 2018 ước đạt 298,2 triệu USD, so tháng trước tăng 58,2%; (giảm 24,68% so với tháng cùng kỳ năm trước). Luỹ kế, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.195 triệu USD, tăng 16,73% so với cùng kỳ, ước đạt 25% so với kế hoạch năm 2018.
5/4/2018 6:00 AMYesĐã ban hành
Bản tin Hoạt động công nghiệp tháng 4 năm 2018 trên địa bàn tỉnhBản tin Hoạt động công nghiệp tháng 4 năm 2018 trên địa bàn tỉnh
Tháng 4 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+2,89%) và tăng khá so với tháng cùng kỳ (+18,52%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+2,90%), sản xuất phân phối điện (+2,82%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+3,31%). Chỉ số IIP trong tháng tăng nhẹ do ảnh hưởng từ một số ngành có chỉ số giảm như: sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại.

​Biểu 1: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 so tháng trước và tháng cùng kỳ (%)

H 1.jpg

Phần lớn các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng so tháng trước: Bột mì,giầy các loại, quần áo các loại, vỏ, ruột xe, clanke, gạch các loại, điện thương phẩm; các sản phẩm giảm: đường các loại giảm mạnh do nhà máy đường TTC đã ngưng vụ chế biến (chỉ còn kết tinh từ đường thô), xi măng.

Biểu 2: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu  tháng 4/2018 (ĐVT: %) 

H 2.jpg

Lũy kế so cùng kỳ, chỉ số sản xuất công nghiệp phân theo ngành kinh tế tăng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+14,72%), sản xuất phân phối điện (+15,56%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (48,46%). Riêng công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm so cùng kỳ (-23,83%). Hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu tăng và tăng cao so cùng kỳ: dệt (+39,41%), sản xuất trang phục (+17,34%), sản phẩm từ cao su&plastic (+31,35%). Phần lớn các sản phẩm chủ yếu tăng so cùng kỳ, riêng sản phẩm đường các loại, Clanke Poolan giảm.

Biểu 3: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu 4 tháng/2018 so với cùng kỳ (%) 

H 3.jpg

Tính chung 4 tháng, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá so cùng kỳ năm 2017. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,01% so cùng kỳ (năm 2017 tăng 14,15%), trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo (+14,72%); sản xuất phân phối điện (+15,56%); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+48,46%). Chỉ số sản xuất tăng, tác động chủ yếu từ các ngành có GTSX chiếm tỷ trọng cao và sản phẩm tăng như: chế biến thực phẩm, dệt, khoáng phi kim loại, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, sản xuất cao su & plastic, tinh bột sắn, xi măng./. 

Theo P.QLCN - SCT

4/24/2018 1:00 PMĐã ban hànhCông nghiệpTinBản tin Hoạt động công nghiệp tháng 4 năm 2018 trên địa bàn tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tháng 4 năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng so tháng trước (+2,89%) và tăng khá so với tháng cùng kỳ (+18,52%). Các phân ngành kinh tế tăng trong tháng: công nghiệp chế biến, chế tạo (+2,90%), sản xuất phân phối điện (+2,82%), cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+3,31%). Chỉ số IIP trong tháng tăng nhẹ do ảnh hưởng từ một số ngành có chỉ số giảm như: sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại.
4/24/2018 1:00 PMYesĐã ban hành
LỊCH NGỪNG CUNG CẤP ĐIỆN NÂNG CẤP, SỮA CHỮA ĐƯỜNG DÂY (từ ngày 14/4/2018 đến ngày 22/4/2018)LỊCH NGỪNG CUNG CẤP ĐIỆN NÂNG CẤP, SỮA CHỮA ĐƯỜNG DÂY (từ ngày 14/4/2018 đến ngày 22/4/2018)

1.  THÀNH PHỐ TÂY NINH:

- Ngày 16/4/2018: Khu phố 2, 3 phường I và khu phố Hiệp Thạnh phường Hiệp Ninh từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 17/4/2018: Khu phố Ninh Trung phưòng Ninh Sơn từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 18/4/2018: Khu phố Ninh Lộc phường Ninh Sơn và ấp Thạnh Đông xã Thạnh Tân từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 19/4/2018: Khu phố Ninh Thành phường Ninh Sơn và ấp Bàu Lùn xã Bình Minh từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 20/4/2018: Khu phố 5 phường III; khu phố Ninh Phú, Ninh Bình phường Ninh Sơn và khu phố Ninh Nghĩa phường Ninh Thạnh từ 08giờ đến 17giờ.

2. HUYỆN HÒA THÀNH:

- Ngày 21/4/2018: Ấp Trường Thiện, Trường Thọ xã Trường Hòa; ấp Trường Phước, Trường Lộc xã Trường Tây và ấp Long Tân, Long Đại, Sân Cu xã Long Thành Bắc từ 07giờ đến 17giờ. Ấp Long Chí, Long Kim xã Long Thành Trung và ấp Long Hải, Trường Giang xã Trường Tây từ 07giờ đến 13giờ30. Ấp Long Mỹ xã Long Thành Bấc từ 07giờ đến 13giờ30 và từ 17giờ đến 18giờ.

3. HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU:

- Ngày 16/4/2018: Ấp Lộc Trung xã Lộc Ninh và ấp Phước Long 2 xã Phan từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 17/4/2018: Ấp Bàu Dài xã Phước Ninh từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 18/4/2018: Tổ 7 khu phố 3 Thị trấn và ấp Bình Linh xã Chà Là từ 08giờ đến 17giờ. Àp Phước Hòa xã Suối Đá từ 08giờ đến 1 lgiờ30.

- Ngày 19/4/2018: Ấp Phước An xã Phước Ninh từ 08giờ đến 1 lgiờ30. Ấp Phước Long 1 xã Phan, ấp Khởi Trung (trừ tổ 9, 36) xã Cầu Khởi và ấp Phước Tân xã Phước Ninh từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 20/4/2018: Ấp Láng xã Chà Là từ 08giờ đến 17giờ.

4. HUYỆN CHÂU THÀNH:

- Ngày 16/4/2018: Ấp Thanh Bình, Thanh An xã An Bình; ấp Suối Muồn xã Thái Bình và ấp Thanh Hòa, Thanh Phước, Thanh Trung, Thanh Thuận, Thanh Đông xã Thanh Điền từ 08giờ đến 1 lgiờ30. Ấp Long Châu, Long Đại xã Long Vĩnh và ấp Bình Phong xà Thái Binh từ 13giờ30 đến 17giờ.

- Ngày 17/4/2018: Ấp Bến Cừ xã Ninh Điền từ 08giờ đến 1 lgiờ30. Ẩp Nam Bến Sỏi, Thành Trung, Thành Đông xã Thành Long từ 13giờ30 đến 17giờ.

- Ngày 18/4/2018: Ẩp cầy Xiêng xã Đồng Khởi từ 08giờ đến 1 lgiờ30. Ấp Tua Hai. Bình Lương xã Đông Khởi từ 13giờ30 đến 17giờ.

- Ngày 19/4/2018: Khu phố 2 Thị trấn từ 08giờ đến llgiờ30. Ấp Bình Hòa xã Thái Bình từ 13giờ30 đến 17giờ.

- Ngày 20/4/2018: Ấp cầu Trường xã Hảo Đước từ 08giờ đến 1 lgiờ30. Ấp Trường xã Hảo Đước từ 13giờ30 đên 17giờ.

- Ngày 21/4/2018: Xã Phước Vinh từ 06 giờ đến 17giờ.

- Ngày 22/4/2018: Ấp Xóm Ruộng xã Trí Bình và các xã Ninh Điền. Thành Long, Hòa Hội, Hòa Thạnh, Biên Giới (trừ ấp Rạch Tre) từ 06 giờ đến 17giờ.

5. HUYỆN BẾN CẦU:

- Ngày 16/4/2018: Ấp Bàu Tràm Lớn xã Tiên Thuận, ấp Thuận Tâm xã Lợi Thuận và ấp Long Llòa 2 xã Long Chữ từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 18/4/2018: Ấp Long Giao, Long Thạnh xã Long Chữ từ 08giờ đến 17giờ. Ngày 19/4/2018: Khu phố 4 Thị trấn, ấp Rừng Dầu xã Tiên Thuận và ấp Thuận Tây xã Lợi Thuận từ 08giờ đến 17giờ.

- Ngày 20/4/2018: Khu phố 3 Thị trấn và ấp Thuận Đông xã Lợi Thuận từ 08giờ đến 17giờ.

6. HUYỆN TRẢNG BÀNG:

     - Ngày 16/4/2018: Ấp An Hội, Hòa Hội xã An Hòa; ấp Phước Trung, Phước Long, Phước Lập xã Phước Chỉ và ấp Bình Phú xã Bình Thạnh từ 08giờ đến 17giờ.
     - Ngày 17/4/2018: Ấp Lộc Trung, Lộc Trị, Lộc Thuận xã Hưng Thuận; ấp Phước Llưng, Phước Dân xã Phước Chỉ và ấp Bình Phước xã Bình Thạnh từ 08giờ đến 17giờ.
     - Ngày 18/4/2018: Ấp A5 xã Phước Chỉ từ 08giờ đến 17giờ.
     - Ngày 19/4/2018: Ấp An Phú xã An Tịnh từ 08giò' đến 17giờ. Ấp cầu Xe, Tân Thuận xã Hưng Thuận từ 10giờ đến 13giờ.
     - Ngày 20/4/2018: Ấp Lộc An xã Lộc Hưng từ 08giờ đến 17giờ.
     - Ngày 22/4/2018: Toàn bộ KCN Thành Thành Công và khu tái định cư KCN Thành Thành Công từ 07giờ đến 17giờ.

7. HUYỆN TÂN CHÂU:
     - Ngày 16/4/2018: Ấp Thạnh Hưng xã Thạnh Đông và ấp 3, 4 xã Suối Ngô từ 08giờ đến 17giờ.
     - Ngày 17/4/2018: Ấp Tân Tây, Tân Thạnh, Tân Lợi xã Tân Hưng và ấp Tân Lợi xã Tân Phú 07giờ đến 17giờ.
     - Ngày 18/4/2018: Ấp Hội Tân xã Tân Hội và ấp Tân Bình xã Tân Hiệp từ 08 giờ đến 17giờ.
     - Ngày 19/4/2018: Ấp Thạnh Quới, Thạnh Hưng xã Thạnh Đông; ấp Hội Thành xã Tân Hội và ấp Tân Lâm xã Tân Hà từ 07giờ đến 17giờ.

8. HUYỆN TÂN BIÊN:
     - Ngày 16/4/2018: Khu phố 4 Thị trấn, ấp Thạnh Thọ xã Thạnh Bình và ấp Suối Mây xã Thạnh Bắc từ 08giò' đến 1 lgiờ30.
     - Ngày 17/4/2018: Ấp Tân Đông 1 xã Tân Lập và ấp Đồng Dài xã Tân Phong từ 08giờ đến 17giờ.

4/17/2018 1:00 PMĐã ban hànhNăng lượngTinLỊCH NGỪNG CUNG CẤP ĐIỆN NÂNG CẤP, SỮA CHỮA ĐƯỜNG DÂY (từ ngày 14/4/2018 đến ngày 22/4/2018)/PublishingImages/2018-04/lich-cup-dien_Key_17042018120424.gif
4/17/2018 1:00 PMYesĐã ban hành
1 - 30Next